vanban.org

Bản án 197/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định …

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "dương quốc t - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 197/2020/HS-ST
Ngày: 14 – 7 – 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Hồng.

Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2020/TLST- HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 190/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Quốc T, sinh ngày 25/10/2001 tại tỉnh T; trú tại: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh T; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Dƣơng Văn T, sinh năm 1978 và bà Phạm Hồng N, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 06/02/2020 đến nay. Có mặt

- Bị hại:

+ Ông Phạm Văn L, sinh ngày: 20/03/1997 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của ông L: Bà Lê Thị M, sinh năm 1979 và ông Phạm Văn T, sinh năm 1977; cùng trú tại: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh K (là cha mẹ của ông L). Vắng mặt.

+ Bà Võ Thị Huyền T1, sinh năm 2001; trú tại: Ấp V, xã G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Phạm Hồng N, sinh năm 1970 và ông Dƣơng Văn T, sinh năm 1978; cùng trú tại: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh T. Vắng mặt.

+ Bà Trần Bé T, sinh năm: 1984; trú tại: Ấp N, xã N,, huyện T,, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hiền L. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 25/8/2019 Dƣơng Quốc T (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 84H1-327.61 chở bà Võ Thị Huyền T1 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Hữu Cảnh hƣớng từ ngã ba Suối đờn đến ngã ba Sở rác, khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Bình Phƣớc, phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An, Tđiều khiển xe lấn sang phần đƣờng của xe ngƣợc chiều dẫn đến tai nạn với xe mô tô biển số 68T1-437.14 do ông Phạm Văn L điều khiển lƣu thông theo hƣớng ngƣợc lại làm ông L chết sau khi cấp cứu, T và bà T3 bị thƣơng, 02 xe mô tô hƣ hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng nhƣ sau:

- Hiện trƣờng là đƣờng Nguyễn Hữu Cảnh thuộc khu phố Bình Phƣớc, phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An. Đƣờng đƣợc trải nhựa phẳng và thẳng, hơi đỗ dốc, rộng 07 mét, đƣờng đƣợc chia làm 02 chiều lƣu thông bởi 01 dải vạch sơn vàng đứt quãng ở giữa. Lấy phần đƣờng bên phải hƣớng từ ngã ba Sở rác đến ngã ba Suối Đờn làm chuẩn. lấy trụ đèn số 77 trên lề đƣờng phải làm cột mốc.

- Xe mô tô biển số 68T1 – 437.14 ngã nghiêng bên trái nằm trên mặt đƣờng, đầu xe quay về hƣớng lề đƣờng bên trái. Trục bánh trƣớc của xe mô tô cách mép đƣờng bên phải là 3,78 mét; Trục bánh sau của xe mô tô cách mép đƣờng bên phải là 3,34 mét và cách cột điện chiếu sáng số 77 là 15,5 mét.

- Xe mô tô biển số 84H1 – 327.61 ngã nghiêng bên phải, nằm trên mặt đƣờng đầu xe quay về hƣớng lề đƣờng bên trái. Trục bánh trƣớc của xe ô tô cách mép đƣờng bên phải là 3,89 mét và cách trục trƣớc xe mô tô biển số 68T1 – 437.14 là 0,88 mét. Trục bánh sau của xe mô tô cách mép đƣờng bên phải là 2,74 mét.

- Cột điện chiếu sáng số 77 nằm trên vỉa hè bên phải, cách trục bánh sau của xe mô tô biển số 68T1 – 437.14 là 15,5 mét.

- Vết máu 1: Cách trục bánh sau xe mô tô biển số 68T1–437.14 là 0,4 mét và cách mép đƣờng bên phải là 3,1 mét; cuối vết máu 1 cách mép đƣờng bên phải là 2,4 mét.

- Vết máu 2: Cách vết máu thứ nhất là 2,1 mét và cách mép đƣờng bên phải là 1,15 mét.

Theo bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 494/2019/GĐPY của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng căn cứ trên hồ sơ kết luận: Nạn nhân Phạm Văn L bị chấn thƣơng sọ não mức độ nặng, xuất huyết lan tỏa, chèn ép não gây ngƣng tim ngƣng thở dẫn đến tử vong.

Theo bản kết luận giám định số 172/GĐCH-PC09 ngày 30/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận điểm va chạm đầu tiên và cơ chế hình thành dấu vết giữa xe mô tô hai bánh biển số 84H1-327.61 và xe mô tô hai bánh biển số 68T1-437.14:

+ Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô hai bánh biển số 84H1-.327.61 và xe mô tô hai bánh biển số 68T1-437.14 là dấu vết vỡ, cong, rách, trƣợt xƣớc có chiều từ trƣớc về sau tại ốp nhựa đầu xe, bánh trƣớc, bửng, đầu đèn phía trƣớc bên trái xe mô tô hai bánh biển số 68T1-437.14 phù hợp va chạm với dấu vết bể vỡ, cong, trƣợt xƣớc có chiều từ trƣớc về sau tại ốp nhựa đầu xe, mặt nạ, bánh trƣớc, vè chắn bùn bánh trƣớc, bửng, bên trái xe mô tô hai bánh biển số 84H1-327.61.

+ Dấu vết mài mòn chi tiết bên phải (gồm: chân phanh, gác chân trƣớc, gác chân sau bửng) của xe mô tô biển số 84H1-327.61 và dấu vết mài mòn các chi tiết bên trái gồm: đầu tay cầm, tay phanh, cạnh ngoài gác chân trƣớc, chống ngang, thanh gạt chống đứng, gác chân sau, bửng) của xe mô tô biển số 68T1-437.14 phù hợp va chạm với mặt đƣờng.

+ Cơ chế hình thành dấu vết trên các phƣơng tiện là: Xe mô tô hai bánh biển số 68T1 – 437.14 đang lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Hữu Cảnh thì va chạm với xe mô tô biển số 84H1 – 327.61 lƣu thông bên trái theo chiều ngƣợc lại làm xe mô tô hai bánh biển số 84H1 – 327.61 đổ ngã qua phải va chạm với mặt đƣờng tạo ra dấu vết trên hai phƣơng tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

+ Vị trí va chạm giữa hai xe mô tô chiếu xuống mặt đƣờng là khu vực giữa hai đầu vết cày đánh số 2 và số 4 (trên sơ đồ hiện trƣờng) thuộc phần đƣờng bên phải hƣớng từ ngã ba Sở Rác đến ngã ba Suối Đờn.

- Theo phiếu xét nghiệm sinh hóa máu ngày 25/8/2019 đối với Dƣơng Quốc T tại Trung tâm y tế thị xã (nay là thành phố) Thuận An xác định kết quả máu của Ttái huyết không xác định đƣợc định lƣợng cồn trong máu.

Bản Cáo trạng số 200/CT-VKS -TA ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Dƣơng Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Dƣơng Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản khám nghiệm và bản ảnh hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai của bị hại, của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/8/2019, Dƣơng Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 84H1-327.61 chở bà Võ Thị Huyền T1 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Hữu Cảnh, khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Bình Phƣớc, phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An, Tđiều khiển xe lấn sang trái, phần đƣờng dành cho xe ngƣợc chiều dẫn đến tai nạn với xe mô tô biển số 68T1-437.14 do ông Phạm Văn L điều khiển theo hƣớng ngƣợc lại làm ông L tử vong. Hành vi của bị cáo điều khiển xe khi tham gia giao thông nhƣng không có giấy phép lái xe theo quy định, đi không đúng làn đƣờng đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008 gây tai nạn làm chết một ngƣời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy đã tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không nghiêm chỉnh chấp hành, điều khiể xe không có giấy phép lái xe theo quy định, khi lƣu thông không đúng làn đƣờng của mình gây tai nạn. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, ảnh hƣởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là vô ý do quá tự tin, do đó cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã cùng gia đình bồi thƣờng chi phí mai tang, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có công với Nhà nƣớc, ông Ngoại đƣợc tặng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhì, bà cố đƣợc tặng danh hiệu Bà mẹ Việt nam anh hùng là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Khi phạm tội bị cáo chƣa đủ 18 tuổi nên áp dụng các Điều 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.

Xét thấy bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hƣớng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong hồ sơ thể hiện đã thỏa thuận nhận 60.000.000 đồng tiền bồi thƣờng chi phí mai tang và tổn thất tinh thần, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình Điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ: 01 xe mô tô biển số 68T1-437.14 của bà Trần Bé T; 01 xe mô tô biển số 84H1-327.61 của bà Phạm Hồng N, bà Ny không biết bị cáo lấy xe sử dụng gây tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với bà Ny về hành vi giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ và đã trả lại các xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã ban hành quyết định quyết định giám định thƣơng tật bà Võ Thị Huyền T1, yêu cầu định giá tài sản bị hƣ hỏng đối với xe mô tô biển số 68T1-437.14, nhƣng bà T3, bà Tèo từ chối giám định, định giá do thƣơng tật, thiệt hại không lớn.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc T 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án 14/7/2020.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T , tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ