vanban.org

Bản án 197/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Võ Thành M 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh M cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 197/2020/HS-ST
Ngày 04-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;

2. Ông Tô Văn Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 172/2020/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2020/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Võ Thành M, sinh năm 1985 tại tỉnh Tiền Giang; thường trú: Ấp T X, xã T Ph, huyện T Ph Đ, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Khu phố Đ A, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn M, sinh năm 1950 và bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1948; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh 1987; bị cáo có vợ tên Lê Thị Phương Ng, sinh năm 1987, có 01 con ruột, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/3/2016, bị Công an phường Đ H, thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, theo Quyết định số 77/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 14/3/2016; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 17/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Trần Văn H1, sinh năm 1995 tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: Thôn Th T, xã Th H, huyện T H, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở: Khu phố N H 1, phường B A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Xuân H, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T, sinh năm 1968; bị cáo có 03 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/3/2016, bị Công an phường Đ H, thị xã D A (nay là thành phố D A), tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, theo Quyết định số 75/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Võ Thanh Ph, sinh năm 1990 tại tỉnh An Giang; thường trú: Số 468, ấp N, xã G Gi, huyện C L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố N H 1, phường B A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; bị cáo có 01 anh ruột, sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2019 đến ngày 17/01/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

4. Hồ Hữu Th, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Số 110/9 đường T V D, khu phố T H, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hồ Văn Tr, sinh năm 1948 và bà Trần Thị C, sinh năm 1959; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1992; bị cáo có vợ tên Hồ Thị D, sinh năm 1988, có 01 con ruột, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

5. Biện Văn H, sinh năm 1990 tại tỉnh Phú Yên; thường trú: Thôn Ph H, xã A N Đ, huyện T A, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: Số 247/16 khu phố N H 1, phường B A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Biện Văn Ng (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm không rõ; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

6. Hồ Văn L, sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Số 110/9 đường T V D, khu phố T H, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hồ Văn Tr, sinh năm 1948 và bà Trần Thị C, sinh năm 1959; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1992; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1993, có 01 con ruột sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

7. Lê Khương Đ, sinh năm 1987 tại tỉnh Tây Ninh; thường trú: Số B, hẻm MM, đường số BL Đ B Ph, khu phố N H, phường N Th, thành phố T N, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Số 2/7 khu phố T H, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; con ông Lê Phát Ng, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Th, sinh năm 1955; bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990; bị cáo có vợ tên Trương Thị Yến Tr, sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/3/2016, bị Công an phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, theo Quyết định số 78/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Khuất Ngọc Th, sinh năm 1989; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/12/2019, Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L, Lê Khương Đ đến dãy trọ tại địa chỉ số 11/8, khu phố T B, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương ngồi chơi thì thấy 01 bộ bài có sẵn trên bàn trước dãy trọ nên cả nhóm rủ nhau đánh bài cào liêng tố thắng thua bằng tiền. Mỗi ván, mỗi người đặt cược từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá, tiền tang 2.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định.

- Võ Thành M mang theo 13.00.000 đồng và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc M thắng 300.000 đồng, khi bị bắt Công an thu giữ trong người 13.300.000 đồng.

- Trần Văn H1 mang theo 21.700.000 đồng và sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H thua 200.000 đồng, khi bị bắt Công an thu giữ trong người 21.500.000 đồng.

- Võ Thanh Ph mang theo 2.500.000 đồng và sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Phim thắng 1.000.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trong người 3.500.000 đồng.

- Hồ Hữu Th mang theo 1.000.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Th thua 100.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trên chiếu bạc 400.000 đồng và trong người 500.000 đồng.

- Biện Văn H mang theo 9.250.000 đồng và sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H thua 2.000.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trong người 7.250.000 đồng.

- Hồ Văn L mang theo và sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc L thắng 900.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trong người 2.900.000 đồng.

- Lê Khương Đ mang theo 10.000.000 đồng và sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ thắng 100.000 đồng, khi bị Công an bắt thu giữ trong người 8.000.000 đồng và trên chiếu bạc 2.100.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 10.200.000 đồng.

Đối với 12.000.000 đồng của Võ Thành M, 500.000 đồng của Hồ Hữu Th, 7.250.000 đồng của Biện Văn H, 8.000.000 đồng của Lê Khương Đ, 21.500.000 đồng của Trần Văn H không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền trên cho Mong, Th, H, Đ và H1.

Tại Bản cáo trạng số: 210/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Võ Thanh M, Trần Văn H1 và Lê Khương Đ, mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và các bị cáo Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H và Hồ Văn L, mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 10.200.000 đồng mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước

- Đối với 01 (một) bộ bài tây 52 lá, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; người chứng kiến; biên bản biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 12 giờ ngày 01/12/2019 tại dãy trọ tại địa chỉ số 11/8, khu phố T B, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào liêng tố thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 10.200.000 đồng.

[3] Như vậy, hành vi của các bị cáo đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc 10.200.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 210/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Các bị cáo là người trực tiếp tham gia đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và công nhân lao động nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú và làm việc rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và người lao động, hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, thời gian tạm giam, tạm giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 323, 324, 325, 326, 327, 328/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ và Quyết định bảo lĩnh số: 23/2020/HSST-QĐBL ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với Võ Thành M.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Xét số tiền 10.200.000 đồng, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước

- Xét 01 (một) bộ bài tây 52 lá, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 12.000.000 đồng của Võ Thành M, 500.000 đồng của Hồ Hữu Th, 7.250.000 đồng của Biện Văn Hòa, 8.000.000 của Lê Khương Đ, 21.500.000 đồng của Trần Văn H1 không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền trên cho M, Th, H, Đ và H1 là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Võ Thành M 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Lê Khương Đ 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Võ Thanh Ph 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Hồ Hữu Th 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Biện Văn H 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 323, 324, 325, 326, 327, 328, 329/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và Quyết định bảo lĩnh số: 23/2020/HSST-QĐBL ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 10.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 01522 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá bài.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Võ Thành M, Trần Văn H1, Võ Thanh Ph, Hồ Hữu Th, Biện Văn H, Hồ Văn L và Lê Khương Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ