- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 197/2018 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TuyênbốbịcáoNguyễnHoàiSphạmtội“Tàngtrữtráiphépchấtmatúy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 197/2018/HSST Ngày: 04/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy và bà Nguyễn Thị Tiến.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thư ký Tòa án - Toà án nhân dân thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 162/2018/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2018/HSST-QĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Hä vµ tªn: Nguyễn Hoài S, sinh n¨m 1986.
Đăng ký hô khẩu: Thôn 7, xã Hợp T, huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng. Cư trú: Lô 102.66 Khu đô thị phía T, (nay là số 69 ngõ 159 đường T), khu 4 phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 12/12. Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956 và con bà Bùi Thị P, sinh năm 1957. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ là chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1985. Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Chưa. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/11/2017, chuyển tạm giam từ ngày 17/11/2017 đến ngày 10/02/2018 tại Trại tạm giam
- Công an tỉnh Hải Dương. Hiện đang thực hiện Quyết định về việc bảo lĩnh số 58/QĐBL-TA ngày 24/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970;
Cư trú tại: Số 5/5/61 phố Trần P, phường Trần P, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
2. Ông Trần Anh T, sinh năm 1974;
Cư trú tại: Khu 11, phường Tân B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10h45phút ngày 16/11/2017, tại khu vực đầu ngõ 147 Quang T, phường Bình H, thành phố H. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H bắt quả tang Nguyễn Hoài S đang cất giấu trái phép trong người 02 gói giấy bạc, kích thước (0,5x1)cm/gói, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, S khai nhận là Heroine, cất giấu để sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của ông Nguyễn Xuân H ở số 5/5/61 Trần P, phường Trần P và ông Trần Anh T ở khu 11, phường Tân B, thành phố H. Quá trình điều tra đã làm rõ: Nguyễn Hoài S có sử dụng chất ma túy nên khoảng 10h00phút ngày 16/11/2017, S đi ra khu vực cống ba cửa phường Quang Trung, thành phố H mua được 02 gói Heroine của một người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) với số tiền 200.000đ, sau đó cất giấu vào trong quần đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi S đi đến khu vực đầu ngõ 147 Quang T, phường Bình H, thành phố H thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố H kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 02 gói giấy bạc, kích thước (0,5x1)cm/gói, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, trước sự chứng kiến của ông H và ông Anh T.
Tại kết luận giám định số 01/KLGĐ- PC54 ngày 17/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thu của Nguyễn Hoài S gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,177gam, là loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục I, STT: 20, Nghị định 82/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Ngày 01/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Hoài S theo yêu cầu của Tòa án nhân dân thành phố H.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 172/KLGĐ ngày 29/5/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị can Nguyễn Hoài S bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn/Người nghiện chất có thuốc phiện. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6/F11.2. Hành vi phạm tội xảy ra ngoài cơn động kinh. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Hoài S bị bệnh trên. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Về vật chứng: Đối với 0,122gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 01/KLGĐ-PC54 ngày 17/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H chờ xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 172/CT-VKSTPHD ngày 16/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Hoài S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (được viết tắt là BLHS).
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài S từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 02 tháng 24 ngày tù (từ ngày 16/11/2017 đến ngày 10/02/2018). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 04 (bốn) ngày đến 09 (chín) tháng 04 (bốn) ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 0,122gam Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định (bút lục số 15, 28-29); phù hợp với lời khai người làm chứng (bút lục số 43-51) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10h45phút ngày 16/11/2017, tại khu vực đầu ngõ 147 Quang T, phường Bình H, thành phố H, Nguyễn Hoài S đang cất giấu trái phép trong người 0,177gam Heroine để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 172/KLGĐ ngày 29/5/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận bị cáo S bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn/Người nghiện chất có thuốc phiện, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6/F11.2. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội xảy ra ngoài cơn động kinh, bị cáo hoàn toàn đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Nên xác định bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,177gam Heroine trong người để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS) của bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bản thân bị cáo trước khi phạm tội bị bệnh động kinh; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn khai báo; đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo là người có bệnh động kinh, có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình được qui định tại Điều 54 của BLHS thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và không tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,122 gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 01/KLGĐ-PC54 ngày 17/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương. Xét Heroine là chất cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy bị cáo S khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực Cống ba cửa thuộc phường Quang T, thành phố H. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy banthườngvụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy banthườngvụ Quốc Hội.
1.TuyênbốbịcáoNguyễnHoàiSphạmtội“Tàngtrữtráiphépchấtmatúy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài S 09 (chín) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 02 tháng 24 ngày tù (từ ngày 16/11/2017 đến ngày 10/02/2018). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,122gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 01/KLGĐ-PC54 ngày 17/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 19/01/2018).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoài S phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồngchẵn)ánphíhìnhsựsơthẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/10/2018)./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố H. - VKSND tỉnh Hải Dương. - Cơ quan CSĐT-Công an thành phố H. - Chi cục THADS thành phố H. - Bị cáo; - Sở tư pháp. - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thị Tố Uyên |