vanban.org

Bản án 196/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 06/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp “Hợp đồng dân sự về tín dụng” Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V Nguyễn Thị Thúy Ng"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 196/2022/DS-ST
Ngày: 06-9-2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng dân sự
về tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phùng

2. Ông Trương Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Hoài, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022,tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân,

tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2022/TLST-DS,ngày

30 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp“Hợp đồng dân sự về tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐXXST- DS, ngày 01 tháng 8 năm 2022

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V.

Địa chỉ: Tổ 13, khóm Phú X, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh C, sinh

năm 1964. Địa chỉ: khóm Phú X, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Theo văn bản ủy quyền số 45A/2022/QĐ-HĐQT ngày 20/4/2022).

2. Bị đơn:

2.1. Bà Nguyễn Thị Thúy Ng, sinh năm 1971.

2.2. Ông Đinh Tấn Ph, sinh năm 1968.

Cùng cư trú: tổ 14, ấp Phú Mỹ Th, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Ông C, bà Ng, ông Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện ngày 30/3/2022, bản tự khai, biên bản hòa giải

nguyên đơn do ông Trần Thanh C đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thúy Ng là giáo viên của Trường Tiểu học B xã Phú An và chồng là Đinh Tấn Ph có đơn xin vay và cam kết trả nợ được trường xác nhận và giới thiệu vay vốn sinh hoạt,cải thiện đời sống, thời hạn vay là 05 (năm) năm, trả lãi và gốc hàng tháng.

Ngày 24/09/2018, bà Nguyễn Thị Thúy Ng có vay của Quỹ tín dụng nhân

dân Chợ V số tiền vốn 130.000.000đ, theo hợp đồng tín dụng số 356/18 ngày 24/09/2018; thời hạn vay 60 tháng, mục đích phục vụ vốn sản xuất nông nghiệp , lãi suất là 1%/ tháng (áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh theo thời diểm), hình thức trả vốn, lãi hàng tháng/lần. Quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị Thúy Ng đã thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V số tiền gốc là 10.850.000đ và lãi 8.894.000đ tính đến ngày 26/4//2019 thì không trả vốn và lãi; hiện còn nợ gốc là 119.150.000 đồng và số tiền lãi 44.622.000 đồng (tính đến ngày 31/3/2022); tổng vốn lãi là 163.772.000đ. Khi đến hạn thanh toán nợ, Quỹ tín dụng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà Ng, ông Ph không thanh toán.

Nay yêu cầu ông Nguyễn Thị Thúy Ng và ông Đinh Tấn Ph trả cho Quỹ tín

dụng nhân dân Chợ V số tiền vốn 119.150.000 đồng, số tiền lãi 51.253.000 đồng (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng vốn lãi là 170.403.000 đồng và tiếp tục trả lãi theo quy định pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy Ng, ông Đinh Tấn Ph đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân,tỉnh An Giang:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm p hán, Hội đồng

xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự theo khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa,Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thúy Ng, ông Đinh Tấn Ph vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấ p hành p háp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Căn cứ vào chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra

tại phiên tòa có đủ căn cứ để buộc bà Nguyễn Thị Thúy Ng, ông Đinh Tấn Ph có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng vốn 119.150.000 đồng, số tiền lãi 51.253.000 đồng (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng vốn lãi là 170.403 .000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nên đề nghị hội đồng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quỹ tín dụng khởikiện yêu cầu Tòa án

giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thúy Ng, ông Đinh Tấn Ph có trách nhiệm trả cho

Quỹ tín dụng vốn vay là 119.150.000đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng

nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng dân sự về tín dụng” theo

quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Mỹ Thượng,

Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại

khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố

tụng dân sự.

Đại diện của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến

hành cấp tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết

định hoãn phiên tòa theo quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự

nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách

quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,

Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Đối với Hợp đồng liên kết số 02 ngày 25/01/2018 giữa Quỹ tín dụng nhân

dân Chợ V với Trường tiểu Học B Phú An mục đích giới thiệu cán bộ, giáo viên

hiện đang công tác của Trường để vay tiền nhằm phát triển kinh tế gia đình và

trích hưởng hoa hồng. Do các bên không ai yêu cầu, không tranh chấp nên không

đặt ra xem xét.

Về nội dung vụ án: Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V yêu cầu bà Ng, ông

Ph trả vốn vay 119.150.000đ,lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Xét, tuy bà

Ng ông Ph không cung cấp lời khai, trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn nhưng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại p hiên tòa, Hội

đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để xác định: Hợp đồng tín dụng số số 356/18 ngày

24/9/2018 được xác lập giữa Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm với bà Ng trên cơ

sở tự nguyện, hai bên đã ký nhận đủ tiền vay; nội dung và hình thức của hợp

đồng phù hợp quy định tại Điều Điều 116, 117 Bộ luật dân sự năm 2015 và p hù

hợp Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã làm phát sinh

quyền, nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Ng đã trả số tiền

gốc là 10.850.000đ và lãi 8.894.000đ tính đến ngày 26/4/2019 thì ngưng đến nay

không trả vốn cũng không trả lãi, là đã vi phạm Điều 5 Hợp đồng tín dụng về

nghĩa vụ thanh toán.Việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp p háp của

Quỹ tín dụng, do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vốn vay và lãi

phát sinh là có cơ sở được chấp nhận.

Tổng vốn vay và lãi tính đến ngày xét xử (06/9/2022), bị đơn phải có

trách nhiệm trả là: vốn 119.150.000 đồng, tiền lãi 51.253.000 đồng (tính đến

ngày 06/9/2022). Tổng cộng vốn lãi là 170.403.000 đồng và lãi p hát sinh theo

hợp đồng tín dụng

Đối với yêu cầu buộc trách nhiệm liên đới: Đối với yêu cầu buộc trách

nhiệm liên đới: Quỹ tín dụng yêu cầu ông Ph có trách nhiệm liên đới trả nợ cho

Quỹ tín dụng; Xét thấy, theo quy định của pháp luật thì, nghĩa vụ dân sự liên đới

là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu

bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Theo quy định Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp quy định về đại diện giữa vợ, chồng. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu quy định của pháp luật, có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định: tuy giao dịch được thực hiện bởi bà Ng nhưng ông Ph biết việc bà Ng ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền là dùng để bổ sung vốn sản xuất của gia đình, điều này được chứng minh bởi “đơn xin vay và cam kết trả nợ ngày 20/9/2018” do bà Ng và ông Ph cùng ký tên. Mặt khác, Hợp đồng tín dụng do bà Ng ký kết phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Ng và ông Ph (có xác nhận của địa Ph về quan hệ hôn nhân của ông bà), mục đích vay là nhằm bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp phát triển kinh tế gia đình. Như phân tích trên, thì việc bà Ng ký kết hợp đồng tín dụng với Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm để vay tiền là nhằm để phục vụ phát triển kinh tế gia đình nên ông Ph phải là người cùng chịu trách nhiệm liên đới như nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 288, Điều 289 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Quỹ tín dụng không p hải chịu tiền án phí sơ thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

+ Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288 Bộ luật

dân sự năm 2015;

+ Các Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

+ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 về hướng

dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

+ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

- Tuyên xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V đối với

bà Nguyễn Thị Thúy Ng và ông Đinh Tấn Ph; về việc trả vốn vay,lãi phát sinh còn nợ theo Hợp đồng tín dụng.

+ Buộc bà Nguyễn Thị Thúy Ng và ông Đinh Tấn Ph có nghĩa vụ liên đới

trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm số tiền vốn 119.150.000 đồng và lãi 51.253.000 đồng (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng vốn và lãi là 170.403.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng

- Về án phí sơ thẩm:

+ Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V không phải chịu án phí nên được nhận lại

tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án p hí, lệ p hí Tòa án

4.100.000đ số 0004421 ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

+ Bà Nguyễn Thị Thúy Ng và ông Đinh Tấn Ph phải chịu án phí là

8.520.000đ.

- Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống

đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người p hải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi

hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ