vanban.org

Bản án 196/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho Lê Thị K được ly hôn với anh Đoàn Văn H

Về con chung: Giao cháu Đoàn Hồng Ph, sinh ngày 02/8/2014 cho chị Lê Thị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh H không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị anh Đoàn Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị K - Đoàn Văn Ph"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho Lê Thị K được ly hôn với anh Đoàn Văn H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 9- 2018
“ Về việc xin ly hôn, nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳ nh Minh Tí nh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đức kỳ

Ông Bùi Hữu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2018/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 284/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị K, sinh năm 1996 (Có mặt)

Cư trú: Ấp Mũi Tràm B, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Cư trú: Ấp Ngọc Tuấn, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2018 và các lời khai tại Tòa án, tại phiên tòa chị Lê Thị K (Nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh H kết hôn vào ngày 19/6/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì phát sinh mâu thuẩn. Vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẩn trầm trọng, tôi xét thấy giữa chúng tôi không còn tình cảm vợ chồng. Nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C cho tôi được ly hôn với anh Đoàn Văn H.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Đoàn Hồng Ph, sinh ngày 02/8/2014. Hiện nay cháu Ph đang sống với tôi, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu cầu.

Về nợ: Chúng tôi không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Đoàn Văn H, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh H biết về việc chị K yêu cầu xin ly hôn; yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không có nhưng anh H không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập anh H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt nên không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh H và chị K được. Tòa án triệu tập anh H tham gia phiên tòa sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận định:

[1] Về hôn nhân: Chị K và anh H kết hôn ngày 19/6/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị Kiề u và anh H được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, tại phiên tòa chị K trình bày giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Phía anh H không có ý kiến gì về việc chị Lê Thị K yêu cầu ly hôn và cũng không yêu cầu đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, chị K và anh H có nhiều mâu thuẫn nhưng giữa vợ chồng vẫn không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị K và anh H đã được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K được ly hôn với anh H theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Chị K anh anh H có 01 con chung tên Đoàn Hồng Ph, sinh ngày 02/8/2014, hiện nay cháu Ph đang sống với chị K. Sau khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Ph sống với chị K đã ổn định, chị K có đầy đủ điều kiện nuôi dạy con tốt. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Ph cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

[3] Về tài sản chung: Chị K trình bày chị và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, phía anh H không có ý kiến yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về nợ chung: Chị K và anh H không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho Lê Thị K được ly hôn với anh Đoàn Văn H

Về con chung: Giao cháu Đoàn Hồng Ph, sinh ngày 02/8/2014 cho chị Lê Thị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị anh Đoàn Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị K phải chịu số tiền là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền chị K dự nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004552 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, chị Kiề u đã nộp đủ án phí.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ