vanban.org

Bản án 195 — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Thi hành án dân sự;

Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Hải H về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng T yêu cầu ông Nguyễn Hải H thực hiện nghĩa vụ trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đông A
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnánsố: 195/2022/KDTM-ST
Ngày: 14/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đông A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mai;

2. Bà Hoàng Thị An.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 80/2022/TLST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST-KDTM ngày18/8/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 56A/2022/QĐST-KDTM ngày 19/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ: Số 02 Láng H, phường Thành C, quận Ba Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh Đông A.

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Trần Thị Đ - Chức danh: Giám đốc Phòng giao dịch Nam H thuộc Ngân hàng N – Chi nhánh Đông A.

(Theo Giấy uỷ quyền số 418/UQ-NHNo.ĐA của Giám đốc ngân hàng N Chi nhánh Đông A).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hải H, sinh năm 1976.

Hộ khẩu thường trú: Thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị X, sinh năm 1985.

Hộ khẩu thường trú: Thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội.

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991;

Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội.

chị H1 ủy quyền cho anh Nguyễn Hải H;

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị X vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn trình bày:

1. Quan hệ tín dụng: Ngày 13/06/2014, Ngân hàng N – Chi nhánh Đông A – Phòng Giao dịch Nam H (gọi tắt là “ngân hàng N Chi nhánh Đông A”) và ông Nguyễn Hải H ký Hợp đồng tín dụng số 3140- LAV-201403384 với một số nội dung chính như sau:  Mức dư nợ cao nhất: 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng)  Thời hạn hiệu lực cho vay: 12 tháng kể từ ngày 13/06/2014.  Mục đích vay vốn: Kinh doanh tạp phẩm.  Phương thức áp dụng lãi suất: cố định hoặc điều chỉnh.

 Thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày 13/06/2014, kỳ hạn trả nợ: theo phụ lục kèm theo hoặc theo từng giấy nhận nợ.  Mức lãi suất cho vay: 9,5%/năm tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng  Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn đã thỏa thuận.

Thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số 3140- LAV-201403384, ngày 18/12/2014 ngân hàng N Chi nhánh Đông A đã giải ngân cho ông Nguyễn Hải H số tiền là 500.000.000 đồng.

Hiện, tổng dư nợ gốc và lãi của ông Nguyễn Hải H tạm tính đến hết ngày 30/04/2022 tại ngân hàng N Chi nhánh Đông A là: 878.680.556 đồng. Trong đó:  Số nợ gốc: 500.000.000 đồng  Số nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng  Số nợ lãi quá hạn: 208.208.333 đồng

2. Quan hệ thế chấp tài sản:

Tài sản thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cụ thể:

Ngày 27/11/2012, ngân hàng N Chi nhánh Đông A – PGD Nam H và ông Nguyễn Hải H ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5660/2012/HĐTC tại Văn phòng Công chứng Trung Tâm. Theo đó, tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51a, tờ bản đồ số 15, diện tích 153 m2 tại địa chỉ thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 914546 do UBND huyện Đông A, TP Hà Nội cấp ngày 06/06/2012 mang tên ông Nguyễn Hải H. Giá trị tài sản thế chấp là 765.000.000 đồng. Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm là 500.000.000 đồng.

Ngày 29/11/2012, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đông A chứng nhận việc thế chấp bằng quyền sử dụng đất nêu trên đã được đăng ký theo quy định của pháp luật.

3. Yêu cầu Tòa án giải quyết:

ngân hàng N Chi nhánh Đông A đã nhiều lần làm việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử đại diện làm việc với ông Nguyễn Hải H để tìm ra phương án giải quyết. Tuy nhiên ông H vẫn không trả đầy đủ số tiền nợ với ngân hàng. Theo đó, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng N khởi kiện ông Nguyễn Hải H đến Tòa án nhân dân huyện Đông A để yêu cầu tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Nguyễn Hải H phải trả cho Ngân hàng N số tiền tạm tính đến hết ngày 30/04/2022 tại ngân hàng N Chi nhánh Đông A là 878.680.556 đồng. Trong đó:

- Số nợ gốc: 500.000.000 đồng

- Số nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng

- Số nợ lãi quá hạn: 208.208.333 đồng

2. Buộc ông Nguyễn Hải H phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 30/04/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

3. Trong trường hợp ông Nguyễn Hải H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5660/2012/HĐTC tại Văn phòng Công chứng Trung Tâm để trả nợ Ngân hàng.

4. Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì ông Nguyễn Hải H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn ông Nguyễn Hải H trình bày:

Về thời điểm kí kết và nội dung hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp như nguyên đơn trình bày là đúng. Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, ông đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 51a, tờ bản đồ số 15, diện tích 153 m2 tại địa chỉ thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 914546 do UBND huyện Đông A, TP Hà Nội cấp ngày 06/06/2012 mang tên ông Nguyễn Hải H. ông H thừa nhận nghĩa vụ nợ và đề nghị được trả dần nợ gốc, xin miễn giảm nợ lãi.

* Quá trình tố tụng Toà án không lấy được lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị X. Toà án đã lập biên bản làm căn cứ lưu hồ sơ vụ án.

* Tại các phiên tòa xét xử,

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, gửi kèm đơn là Bảng kê tính lãi đến ngày xét xử. Trong đó, nguyên đơn yêu cầu tiền gốc lãi theo Hợp đồng tín dụng và 02 số giải ngân kèm theo Hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử là: Nợ gốc: 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng; nợ lãi quá hạn: 233.541.667 đồng; Tổng cộng: 904.013.889 đồng;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự.

-Về tố tụng: Quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành pháp luật không đầy đủ.

-Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

- Về án phí: Vụ án áp dụng án phí có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 51a, tờ bản đồ số 15, diện tích 153 m2 tại địa chỉ thôn Đại Đ, xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 914546 do UBND huyện Đông A, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/06/2012 mang tên ông Nguyễn Hải H. Mục đích vay tiền để kinh doanh. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông A thụ lý vụ án kinh doanh thương mại để giải quyết đúng thẩm quyền.

- Về tống đạt: Đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng hợp lệ.

- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn, Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do dù được triệu tập hợp lệ nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án xét xử vắng mặt các đương sự đó là đúng pháp luật.

{2} Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

{3} Về nội dung:

{3.1} Hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng số 3140- LAV-201403384 ngày 13/6/2014 được nguyên đơn, bị đơn thừa nhận. Hợp đồng hợp pháp về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn thông qua Giấy nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngân hàng. Tại lời khai, bị đơn thừa nhận nghĩa vụ nợ, xin trả dần nợ gốc, xin miễn giảm lãi. Bị đơn mới trả được nguyên đơn một phần nợ. Như vậy, xác định bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nên căn cứ vào Điều 474 , 476 của Bộ luật Dân sự 2005, bị đơn có nghĩa vụ trả đủ nợ gốc và lãi theo thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Tính đến hết ngày xét xử là ngày 05/9/2022, bị đơn còn nợ Ngân hàng N số tiền: Nợ gốc: 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng; nợ lãi quá hạn: 233.541.667 đồng; Tổng cộng: 904.013.889 đồng (Có Bảng kê tính lãi của ngân hàng lưu trong hồ sơ vụ án).

Như vậy, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện là có căn cứ nên được chấp nhận.

Mặc dù Hợp đồng tín dụng do một mình ông H kí kết, tuy nhiên, tại Hợp đồng thế chấp, bà Xuân cũng tham gia kí. Do vậy bà Xuân cũng có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp đối với nguyên đơn.

Bị đơn ông H phải tiếp tục trả lãi từ ngày 06/9//2022 trên dư nợ gốc thực tế cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

{4.2} Về tài sản đảm bảo và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ, ngày 27/11/2012, ngân hàng N Chi nhánh Đông A – PGD Nam H và ông Nguyễn Hải H, bà Cao Thị X đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5660/2012/HĐTC tại Văn phòng Công chứng Trung Tâm. Theo đó, tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51a, tờ bản đồ số 15, diện tích 153 m2 tại địa chỉ Thôn Đại Đ, Xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 914546 do UBND huyện Đông A, TP Hà Nội cấp ngày 06/06/2012 mang tên ông Nguyễn Hải H. Giá trị tài sản thế chấp: 765.000.000 đồng, Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm: 500.000.000 đồng. Hợp đồng thế chấp thoả mãn quy định của Bộ luật Dân sự 2005. Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đúng quy định tại Điều 342 Bộ luật dân sự 2005, trong hợp đồng thế chấp cả toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Như vậy hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp có thỏa thuận sử dụng tài sản thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, các khoản phí và phí phát sinh khác liên quan (nếu có). Như vậy, có thể hiểu là: Với tài sản đảm bảo nêu trên, Nguyên đơn có thể cho bị đơn vay số tiền nợ gốc trong phạm vi 500.000.000 đồng. Bên cạnh khoản nợ gốc 500.000.000 đồng, tài sản này còn được dùng để bảo đảm cho nợ lãi, nợ lãi quá hạn, các khoản phí và phí phát sinh khác liên quan (nếu có). Tính đến ngày xét xử, Bị đơn còn nợ: Nợ gốc: 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng; nợ lãi quá hạn: 233.541.667 đồng; Tổng cộng: 904.013.889 đồng. Bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ Căn cứ Điều 721 Bộ luật Dân sự 2005, chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn phù hợp pháp luật.

Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Hải H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho nguyên đơn.

{5}Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung công Nhà nước.

{6} Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 122, 302, 305, 342, 343, 344, 351, 355; 467,470, 471, 474, 476, 715, 720, 721 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 68 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ-CP;

- Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày - Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

- Luật Thi hành án dân sự;

- Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Hải H về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

2. Nguyễn Hải H có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng N các khoản tiền tính đến hết ngày 05/9/2022 là:

Nợ gốc: 500.000.000 đồng;

Nợ lãi trong hạn: 170.472.222 đồng;

Nợ lãi quá hạn: 233.541.667 đồng;

Tổng cộng: 904.013.889 đồng.

(Có Bảng kê tính lãi của ngân hàng lưu trong hồ sơ vụ án).

Ông Nguyễn Hải H nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng N từ ngày 06/9/2022 cho đến khi trả hết nợ trên dư nợ gốc thực tế theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3140- LAV-201602132 ngày 26/04/2016.

3. Trường hợp ông Nguyễn Hải H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền tự xử lý theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 51a, tờ bản đồ số 15, diện tích 153 m2 tại địa chỉ Thôn Đại Đ, Xã Võng L, huyện Đông A, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 914546 do UBND huyện Đông A, TP Hà Nội cấp ngày 06/06/2012 mang tên ông Nguyễn Hải H.

4. Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Hải H phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho nguyên đơn.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Ông Nguyễn Hải H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là đồng.

Ngân hàng N được nhận lại 19.180.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0046583 ngày 07/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông A.

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ