vanban.org

Bản án 195/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Sồng A C 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A C - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2026/HS-ST
Ngày 25 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Anh Đông và ông Nguyễn Thành Vương.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tràng Dũng, Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân H - Trại tạm giam Công an tỉnh S:

- Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Duy H1

- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Trọng Đ.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam Vân H: Ông Lò Văn H2, ông Cà Văn A.

Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân H - Trại tạm giam Công an tỉnh S xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 207/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Sồng A C; sinh ngày: 01/5/1998 tại xã V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã V, tỉnh Sơn La; số căn cước công dân: 014098000189; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A T (đã chết) và bà Giàng Thị V, sinh năm 1973; có vợ là Giàng Thị C1 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/3/2016 Công an huyện V Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, mức phạt 200.000 đồng, chấp hành xong ngày 05/4/2016 (đã được xóa tiền sự);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2026 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/3/2026, Sồng A C đi đến khu vực phường M, tỉnh Sơn La để tìm việc làm thuê. Trên đường dân sinh, C gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 05 viên hồng phiến được gói bên ngoài bằng một mảnh nilon màu xanh, trên bề mặt gói giấy có chữ màu đen với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu gói ma túy vào túi áo bên phải rồi tìm đến một lán nương bỏ hoang không có người để ngủ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C ngủ dậy và đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực vườn hoa thuộc tổ dân phố T, phường M, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an phường M kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Sồng A C: 01 gói giấy màu xanh, trên bề mặt gói giấy có dòng chữ “FUNY”, bên trong đựng 05 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine.

Ngày 24/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành Test thử ma túy đối với Sồng A C, kết quả Âm tính với chất ma túy. Xác minh Sồng A C không thuộc diện nào quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Ngày 24/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng các viên nén màu hồng nghi là ma túy thu giữ của Sồng A C có khối lượng 0,44 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C. Tại Kết luận giám định số: 602/KL-KTHS ngày 30/3/2026 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,44 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Cáo trạng số 69/CT-VKSSLA-KV ngày 09/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị can Sồng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa: Bị cáo Sồng A C trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Sồng A C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy màu xanh, bề mặt mảnh giấy có dòng chữ “FUNY”.

+ Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A C.

- Bị cáo Sồng A C nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Sồng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La thu giữ vào ngày 23/3/2026 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La lập vào hồi 23 giờ 10 phút ngày 23/3/2026; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Sồng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 23/3/2026 bị cáo Sồng A C đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,44 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác (đã được xóa tiền sự); Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nhận thức được tác hại của việc sử dụng chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy màu xanh, bề mặt mảnh giấy có dòng chữ “FUNY”, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Xét thấy bị cáo Sồng A C là thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa có yêu cầu xin miễn án phí, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A C theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Sồng A C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Sồng A C phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Tính đến ngày mở phiên tòa, thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sồng A C 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 24/3/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy màu xanh, bề mặt mảnh giấy có dòng chữ “FUNY” (Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A C.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2026).

Cỡ chữ