vanban.org

Bản án 195/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Danh Ly N phải chịu 200.000 (hai tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trai phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Không có.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2026/HS-ST
Ngày: 21-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Quốc Thắng;

Ông Tống Đức Hưởng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Danh Ly N, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Sa M và bà Thị Sà P; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 70/QĐ-TA, ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh), áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng (chấp hành xong ngày 16/8/2025). Nhân thân: Tại Bản án số 179/2026/HSST, ngày 21/7/2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh, căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Danh Ly Na 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 78/QĐ-TA, ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh), áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng (chấp hành xong ngày 22/5/2023).

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác từ ngày 09/4/2026 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Danh Ly N là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 471/QĐ-UBND ngày 18/8/2025 của UBND xã T, tỉnh Tây Ninh trong thời hạn từ ngày 16/8/2025 đến ngày 16/8/2027. Khoảng 12 giờ ngày 09/3/2026, Danh Ly N đang ở nhà thuộc ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh thì Chàm Mút S (không xác định được nhân thân, lai lịch) điều khiển xe đến nhà Danh Ly N để chơi. Lúc này, chỉ có 01 mình Danh Ly Na ở nhà, Chàm M rủ Danh Ly N sử dụng ma túy đá thì Danh Ly N đồng ý. Sau đó, Danh Ly N và Chàm Mút S đi ra đám mãng cầu của ông Chín C phía sau nhà Danh Ly N để sử dụng ma túy. Chàm Mút S lấy ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong nỏ thủy tinh đã có sẵn ma túy, dùng hột quẹt gas nấu ma túy rồi sử dụng trước, rồi đến Danh Ly N sử dụng sau. Sau khi Danh Ly N sử dụng ma túy được 02 hơi thì Chàm M1 Sary nghe điện thoại và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi rời đi. Đến 19 giờ 00 phút ngày 11/3/2026, Công an xã T mời Danh Ly N lên trụ sở Công an để làm việc, kiểm tra phát hiện Danh Ly Na dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

* Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể, ngày 11/3/2026 đối với Danh Ly N, thể hiện: Dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

* Tại Kết luận giám định số: 872/KL-KTHS ngày 19/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Danh Ly N, sinh năm 1994, cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; loại Methamphetamine.

* Vật chứng đang tạm giữ gồm: Không có.

Đối với người tên Chàm Mút S tổ chức cho Ly N sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Danh Ly N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 235/CT-VKSKV11 ngày 24/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Danh Ly N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Danh Ly N về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Ly N từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Bị cáo Danh Ly N không tranh luận và không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định, bị cáo Danh Ly N đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh), áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 70/QĐ-TA, ngày 08/9/2023, đã chấp hành xong ngày 16/8/2025 và ngày 18/8/2025 UBND xã T, tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 471/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn từ ngày 16/8/2025 đến ngày 16/8/2027. Tuy nhiên đến ngày 09/3/2026, Danh Ly N tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà thuộc ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh, đến ngày 11/3/2026 thì bị lực lượng Công an xã T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra và xét nghiệm (test) nhanh nước tiểu của Ly N, kết quả T dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể, ngày 11/3/2026 đối với Danh Ly N, thể hiện: Dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 872/KL-KTHS ngày 19/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Danh Ly N, sinh năm 1994, cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận là người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và tiếp tục sử dụng trái phép. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Danh Ly N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét thấy, vụ án có tính chất rất ít trọng, bị cáo có nhân thân xấu, biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật mà vẫn cố tình thực hiện, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Ngoài lần phạm tội này bị cáo còn phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của người khác và bị Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù. Do đó cần phải có mức án tương xứng với hành vi do bị cáo đã thực hiện, cũng nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời mới có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa chung.

Đối với người tên C1 Mút Sary tổ chức cho Ly N sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Do Cơ quan điều tra Công an tỉnh T không thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Danh Ly N 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Không có.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Danh Ly N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Danh Ly N có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ