- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa chị V và anh B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tường V ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-9-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hải Hưng
Ông Lưu Xuân Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tường V, sinh năm 2002 (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Tường V trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V và anh Nguyễn Văn B tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu ngày 13-3-2020. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cực cãi, đã ly thân. Nay chị V giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Gia B1 (nam), sinh ngày 16-8-2020, hiện nay chị V đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung; không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn B đúng theo quy định pháp luật, nhưng anh B không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 08-9-2023, chị Nguyễn Tường V có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật; anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V và anh Nguyễn Văn B tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu ngày 13-3-2020 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh B được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Tường V, thấy rằng: Hiện nay chị V không còn tình cảm yêu thương anh B và quyết tâm mong muốn được ly hôn. Đồng thời, chị V khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ. Trường hợp tiếp tục chung sống với anh B sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị V được ly hôn với anh B.
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Tường V và anh Nguyễn Văn B có 01 người con chung tên Nguyễn Gia B1 (nam), sinh ngày 16-8-2020, hiện nay chị V đang trực tiếp nuôi dưỡng. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, anh B không có văn bản thể hiện ý kiến về quyền nuôi con. Hiện nay cháu Gia B1 còn nhỏ và từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, chị V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của con chung sau khi ly hôn, cần giao Gia B1 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng. Chị V không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị V.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tường V ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia B1 (nam), sinh ngày 16-8-2020 cho chị Nguyễn Tường V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi Nguyễn Gia B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Nguyễn Văn B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Tường V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Tường V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 8 năm 2023, chị Nguyễn Tường V đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0011383 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị Nguyễn Tường V và anh Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U Minh; - UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Minh Út |