vanban.org

Bản án 195/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Tấn H.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn H. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Tấn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 195/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Anh

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký viên Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT chính thức: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 355/2022/TLST- HNGĐ, ngày 24/10/2022 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: số 444, ấp Tân H, xã Tân CS, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp. (đề nghị vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: tổ 4, ấp Phú L, xã PA, huyện PT, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải không được chị Nguyễn Thị T có lời trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian anh chị tìm hiểu nhau được 05 năm, được cha, mẹ hai bên đồng ý sau đó tiến tới hôn nhân vào đầu năm 2007, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân CS, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp theo quy định. Quá trình chung sống với nhau được hạnh phúc cho đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thời gian dài anh H không có hàn gắn hay về chung sống với chị và con chung, dẫn đến ly thân một thời gian rất dài không còn chung sống với nhau, cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Nay chị T cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn H.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị khai có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh năm 15/02/2008 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung đến trưởng thành và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Về quan hệ tài sản chung; nợ phải thu và phải trả: chị T khai không có, không yêu cầu xem xét giải quyết. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Bị đơn anh Nguyễn Tấn H vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử nên không có lời trình bày.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Nguyễn Tấn H được tống đạt các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh Nguyễn Tấn H vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H. Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa chị T và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân thời gian dài không hàn gắn được phù hợp với xác nhận của chị Danh Thị K là em ruột của anh H có lời khai trước đây vợ chồng anh H, chị T cùng sống chung với vợ chồng chị một thời gian sau đó chị T bỏ về nhà cha, mẹ sống cho đến nay nên yêu cầu của chị T về xin ly hôn là có căn cứ pháp luật. Về con chung tên Nguyễn Tấn H hiện đang chung sống với chị T nên cần ổn định cuộc sống cho cháu H, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị T. Chị T chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

. Về hình thức, thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Tấn H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: tổ 4, ấp Phú L, xã PA, huyện PT, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.

1.3 Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Nguyễn Tấn H được tống đạt các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh Nguyễn Tấn H vẫn vắng mặt tại phiên tòa; chị T có đề nghị vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị T.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn số 47/2007, ngày 18/10/2007 do UBND xã Tân CS, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp cấp cho anh chị) đây là hôn nhân được pháp luật bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xảy ra. Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập từ năm 2007 trên cơ sở tìm hiểu nhau tiến tới hôn nhân, thời gian chung sống có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân, lý do bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình; thời gian dài anh H không có hàn gắn hay về chung sống với chị và con chung, dẫn đến ly thân một thời gian rất dài không còn chung sống với nhau, cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Từ những lý do trên tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay, cũng như từ khi Tòa án thụ lý yêu cầu ly hôn của chị T phía anh H biết nhưng không có thiện chí hàn gắn tình cảm; không còn quan tâm về hôn nhân này, cũng phù hợp với xác nhận của chị Danh Thị K là em ruột của anh H có lời khai trước đây vợ chồng anh H, chị T sống chung với vợ chồng chị nhưng thời gian dài anh H và chị T không còn chung sống với nhau nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

2.2 Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị T xác nhận có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh năm 15/02/2008 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung đến trưởng thành và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Từ khi ly thân cho đến nay cháu H chung sống với chị T được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định và ăn học đầy đủ như bao đứa trẻ khác; phù hợp với nguyện vọng của cháu H là muốn chung sống với chị T. Từ đó, xét thấy hoàn cảnh và điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chưa thành niên của chị T là đảm bảo, cần giữ ổn định cuộc sống cho cháu H nên HĐXX chấp nhận yêu cầu chị T theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.3 Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: chị T khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ, chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

. Về án phí DSST: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tấn H có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 3; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Tấn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn H.

2. Về quan hệ con chung:

2.1 Giao 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh năm 15/02/2008 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đến thành niên và tự lập được. Chị Nguyễn Thị T tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Tấn H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Tấn H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

2.2 Chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Nguyễn Tấn H đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

2.3 Vì lợi ích của con chung khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1 Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005595, ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.

2.2 Anh Nguyễn Tấn H không phải chịu án phí.

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tấn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ