vanban.org

Bản án 195/2022/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P, sửa bản án sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ…

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Đ 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xử phạt bị cáo Dƣơng Quang M 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN KẾ C VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P, sửa bản án sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ…
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2022/HSPT
Ngày: 22/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tất Trình

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Hậu

2. Ông Vũ Hoài Nam

-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thƣ ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

-Đại diện Viện kiểm sát Nhân dânThành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 138/2022/HSPT ngày 08/3/2022 đối với bị cáo Nguyễn Kế C, Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

1- NGUYỄN KẾ C, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh năm: 1983, nơi sinh tại Bình Định, thƣờng trú: Thôn CL, xã CT, huyện PC, tỉnh BĐ ; cƣ trú: đƣờng HTP, phƣờng TTĐ, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Kế T2 và bà Đặng Thị T1 (chết); vợ: Nguyễn Thị Thúy K, có 01 con sinh năm 2009; tiền sự: Không, tiền án: Ngày 13/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về “Tội cố ý gây thƣơng tích” nhƣng cho hƣởng án treo (chƣa thi hành bồi thƣờng về dân sự); tạm giam từ ngày 19/7/2020 đến ngày 21/5/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. (có mặt)

2- NGHIÊM TẤN H, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh năm: 1963, nơi sinh tại Cà Mau, thƣờng trú: đƣờng PĐP, Phƣờng a, thành phố CM, tỉnh CM; cƣ trú: đƣờng f, phƣờng TQ, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12, con ông Nghiêm X (chết) và bà Trịnh Thị H1 (chết); vợ: Lê Thị Kiều H2, con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/3/2016, bị Công an Phƣờng 2, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 28/7/2020. (có mặt) 3- LÝ NGỌC T, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1979, giới tính: Nam, nơi sinh tại Tiền Giang; thƣờng trú:đƣờng TXS , phƣờng TK, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh; cƣ trú: đƣờngTXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12, con ông Lý Văn B (chết) và bà Trần Bạch H3; vợ: Huỳnh Thị Kim C1, con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không, đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ 28/7/2020. (có mặt) 4- NGUYỄN LÊ Đ, tên gọi khác: Không, sinh năm 1964, giới tính: Nam, nơi sinh tại Tp.Hồ Chí Minh; thƣờng trú: đƣờng TXS, khu phố S , phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, nghề nghiệp: Thợ hồ, trình độ văn hóa: 7/12, con ông Nguyễn Lê L (chết) và bà Nguyễn Thị D (chết); vợ: Võ Thị Thanh T; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007, tiền án, tiền sự: Không, đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 01/12/2020. (có mặt) 5- DƢƠNG QUANG M, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1973; giới tính: Nam; nơi sinh tại Tp.Hồ Chí Minh; thƣờng trú: đƣờng NVC, phƣờng CK, Quận A, Tp.Hồ Chí Minh; cƣ trú:đƣờng TXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Dƣơng Thị Anh N (chết); vợ: L.K.L, có 01 con sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không, đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 28/7/2020. (có mặt) 6- VƢƠNG THÀNH P, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995; giới tính: Nam; nơi sinh tại Tp.Hồ Chí Minh; thƣờng trú: đƣờng HVT, Phƣờng V, quận PT, Tp.Hồ Chí Minh; cƣ trú: đƣờng TXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp:Chạy xe công nghệ; trình độ văn hóa: 12/12, con ông Vƣơng P1 (chết) và bà Tăng Tuyết H2; vợ: Chƣa có; có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 28/7/2020. (có mặt) Ngƣời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Đ: Luật sƣ Trƣơng Thị Anh Đào, Công ty Luật TNHH 2 TV Khởi Nguyên, Đoàn Luật sƣ Tp.Hồ Chí Minh (có mặt). Ngoài ra còn có 07 bị cáo khác và 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lúc 12 giờ ngày 19/7/2020, tại bãi đất trống trƣớc nhà số X đƣờng TXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 7 phối hợp với Công an phƣờng Tân Hƣng, Quận 7, bắt quả tang Nguyễn Văn T2 và Hoàng Trọng N1 đang tổ chức cho Dƣơng Quang M, Phan Hoài Â, Phạm Tài T3, Vƣơng Thành P, Lý Ngọc T, Nguyễn Thanh L2, Nghiêm Tấn H, Lê Văn T4, Nguyễn Kế C, Đặng Hoài T5, Nguyễn Lê Đ đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, tổng số tiền dùng đánh bạc là 14.000.000 đồng. Cụ thể nhƣ sau:

- Cánh gà điều: Bị cáo Nguyễn Lê Đ là chủ gà, cá độ với gà mái lại, với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó bị cáo Đ tham gia 500.000 đồng, bị cáo Dƣơng Quang M tham gia 1.000.000 đồng, bị cáo Phan Hoài  tham gia 500.000 đồng và bị cáo Phạm Tài T3 tham gia 1.000.000 đồng.

- Cánh gà mái lại: Bị cáo Vƣơng Thành P là chủ gà, cá độ với cánh gà điều, số tiền là 3.000.000 đồng, gồm: Bị cáo P tham gia 1.000.000 đồng, bị cáo Lý Ngọc T tham gia 500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thanh L1 tham gia 500.000 đồng và bị cáo Nghiêm Tấn H tham gia 1.000.000 đồng.

Cùng với việc tổ chức cho những ngƣời đánh bạc bắt trận đá chính, bị cáo T2 và N1 còn tổ chức cho các con bạc đá hàng sáo nhƣ sau: Bên gà điều bị cáo Phạm Tài T3 các cƣợc 4.000.000 đồng với bên gà mái lại gồm bị cáo Nguyễn Văn T2 tham gia 2.500.000 đồng, bị cáo Lê Văn T4 tham gia 500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Kế C tham gia 500.000 đồng và bị cáo Đặng Hoài T5 tham gia 500.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 01 năm tù về “Tội đánh bạc” và 01 năm 06 tháng tù về “Tội tổ chức đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Trọng N1 01 năm 06 tháng 01 ngày tù về “Tội tổ chức đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Tài T3 01 năm tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2 và bị cáo Phan Hoài Â, mỗi bị cáo 09 tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn kế C 01 năm 03 tháng tù về “Tội đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn T4 và Đặng Hoài T5, mỗi bị cáo 09 tháng 09 ngày tù về “Tội đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M, Vƣơng Thành P, mỗi bị cáo 09 tháng tù về “Tội đánh bạc”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn áp dụng hình phạt bổ sung, xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 20 tháng 01 năm 2022, bị cáo C, T, H, M và Đ có đơn kháng cáo xin đƣợc hƣởng án treo. Ngày 25 tháng 01 năm 2022, bị cáo P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và đƣợc hƣởng án treo. Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội nhƣ bản án sơ thẩm đã xét xử, bị cáo H, T, Đ, M, Q và P giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hƣởng án treo; bị cáo C xin giảm nhẹ hình phạt tù.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Ngày 19/7/2020, tại bãi đất trống trƣớc nhà số X đƣờng TXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Văn T2 và Hoàng Trọng N1 đã có hành vi tổ chức cho 11 ngƣời đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức cá độ đá gà ăn tiền và bản thân bị cáo T2 cũng trực tiếp đánh bạc thắng thua bằng tiền, số tiền dùng đánh bạc là 14.00.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo T2 phạm “Tội tổ chức đánh bạc” và “Tội đánh bạc”, bị cáo N1 phạm “Tội tổ chức đánh bạc” và các bị cáo khác phạm “Tội đánh bạc” và căn cứ vào khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo C, H, T, Đ, M và P có đơn kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định nên đƣợc xem xét theo trình tự phúc thẩm. Các bị cáo C, T, Đ, M và P phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, có đủ điều kiện hƣởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo hƣởng án treo. Đối với bị cáo C đã bị xét xử về một tội phạm khác, chƣa đƣợc xóa án tích, thuộc trƣờng hợp không đƣợc hƣởng án treo, nhƣng bị cáo đã bị tạm giam 10 tháng 02 ngày, xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự, sửa bản án sơ thẩm.

- Luật sƣ bào chữa cho bị cáo Đ trình bày quan điểm bào chữa: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, hiện đang bị bệnh tiểu đƣờng, gia đình thuộc hộ nghèo của địa phƣơng, có đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt tù và cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.

- Các bị cáo không tranh luận thêm với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng các bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt tù và hƣởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình, con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/7/2020, tại bãi đất trống trƣớc nhà số đƣờngTXS, phƣờng TH, Quận Q, Tp.Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Văn T2 và Hoàng Trọng N1 đã có hành vi tổ chức cho 11 ngƣời, gồm: Phạm Tài T3, Lê Văn T4, Nguyễn Kế C, Đặng Hoài T5, Nghiêm Tấn H, Nguyễn Thanh L2, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Phan Hoài Â, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức cá độ đá gà ăn tiền và bản thân bị cáo T2 cũng trực tiếp đánh bạc thắng thua bằng tiền, số tiền dùng đánh bạc là 14.00.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo T2 phạm “Tội tổ chức đánh bạc” và “Tội đánh bạc”, bị cáo N1 phạm “Tội tổ chức đánh bạc”; các bị cáo khác phạm “Tội đánh bạc” và căn cứ khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo T, Đ, M và P, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khi xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhân thân của các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, từ đó xử phạt mỗi bị cáo 09 tháng tù là tƣơng xứng với tính chất và mức độ với hành vi phạm tội của các bị cáo. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không bổ sung thêm đƣợc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nhƣng từ khi đƣợc tại ngoại đến nay các bị cáo có nơi ở ổn định, rõ ràng, chấp hành tốt các quy định pháp luật, có khả năng tự cải tạo, có đủ các điều kiện để đƣợc hƣởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hƣởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục.

Xét kháng cáo của bị cáo H, nhận thấy: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc năm 2016, nhƣng đến nay đã đủ thời gian đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính và tính chất, mức độ của tội phạm mới đƣợc thực hiện thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng và có đủ các điều kiện khác để đƣợc hƣởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên không cần cách lý bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hƣởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục. [4] Xét kháng cáo của bị cáo C, nhận thấy: Bị cáo đã bị xét xử về một tội phạm khác, chƣa đƣợc xóa án tích, nên thuộc trƣờng hợp không đƣợc hƣởng án treo, tuy nhiên số tiền bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, đã bị tạm giam hơn 10 tháng và từ khi đƣợc tại ngoại đến nay không có vi phạm gì, xử phạt bằng thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là đúng quy định, nhƣng đồng thời lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng quy định, cần điều chỉnh lại. Các nhận định nêu trên cũng là lập luận để chấp nhận quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. [5] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [6] Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P, sửa bản án sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hƣởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: + Xử phạt bị cáo Nghiêm Tấn H 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nghiêm Tấn H cho Ủy ban nhân dân phƣờng TQ, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. + Xử phạt bị cáo Lý Ngọc T 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Đ 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Dƣơng Quang M 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Vƣơng Thành P 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P cho Ủy ban nhân dân phƣờng TH, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm N1 vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hƣởng án treo.

2- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kế C, sửa bản án sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Kế C 10 (mƣời) tháng 02 (hai) ngày tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2020 đến ngày 21/5/2021 (đã chấp hành xong).

3- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Kế C, Nghiêm Tấn H, Lý Ngọc T, Nguyễn Lê Đ, Dƣơng Quang M và Vƣơng Thành P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ