vanban.org

Bản án 195/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 195/2022/HS-ST
Ngày 18 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Nguyễn Phương Thà;

2. Bà Lê Yến Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh D, sinh năm 2000 tại tỉnh D1; hộ khẩu thường trú: Ấp Bình Hưng 2, xã D2, huyện D3, tỉnh D1; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Long, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Xuân, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2021, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hồng D4, sinh năm 1969; địa chỉ thường trú: Phường x, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Trần Văn D5, sinh năm 1995, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 ngày 25/12/2021, khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra đến đoạn đường DA7, trước dãy trọ địa chỉ 1/DC65/19 khu phố Hoà Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, tổ tuần tra Công an phường Thuận Giao phát hiện Trần Văn D5 đang điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave S màu đỏ đen, biển số 59S1 – 095.88 chở phía sau Nguyễn Thanh D có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện Nguyễn Thanh D đang cầm trong lòng bàn tay phải 01 (một) túi nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng. Lúc này, Đại khai nhận gói nylon chứa tinh thể màu trắng nêu trên là ma tuý đá của Đại. Vì vậy, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản tạm giữ và niêm phong vật chứng, đưa D, D5 về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh D khai nhận: Tất cả số ma túy nêu trên do D mua của một người đàn ông tên “Tý” (khoảng 20 tuổi, cao khoảng 1,6m, nói giọng Miền Nam) với giá 200.000đồng vào khoảng 21 giờ 00 ngày 25/12/2021 tại khu vực bên hông của quán Bar 106 thuộc địa phận Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Sau khi mua xong, bị cáo đang trên đường đi về phòng trọ thì bị công an kiểm tra bắt giữ. Khi đi mua ma túy, do D không có xe nên có nhờ Trần Văn D5 chở đi công chuyện riêng. D5 không biết việc D đi mua ma túy.

Trần Văn D5 khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 25/12/2021, D5 đang ở nhà trọ thì D gọi điện thoại nhờ Đức chở Đại đi công chuyện. Do ở gần Đại nên D5 đã đồng ý. D5 không có hứa hẹn, không hề biết việc D mua ma túy cũng như cất giữ ma túy trong người.

Qua kiểm tra tại trung tâm Y tế thành phố Thuận An xác định: Nguyễn Thanh D có sử dụng ma túy loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave S màu đỏ đen, biển số 59S1 – 095.88.

Tại bản Kết luận giám định số 34/MT-PC09 ngày 30/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,8653gam. Mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng/trọng lượng 0,8286 gam, đã được niêm phong ký hiệu 34/MT-PC09.

Tại Bản cáo trạng số 198/CT-VKS-TA ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về vật chứng trong vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, xử lý đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave S màu đỏ đen, biển số 59S1 – 095.88.

Bị cáo Nguyễn Thanh D thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 ngày 25/12/2021, tại khi vực thuộc đoạn đường DA7, trước dãy trọ địa chỉ 1/DC65/19 khu phố Hoà Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thanh D đã có hành vi cất dấu ma túy loại Methamphetamine với trọng lượng 0,8653gam để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người nghiện ma túy nên nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định về hình phạt cần xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư đã niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có ký hiệu 34/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) sẽ tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 59S1 – 095.88, quá trình điều tra đối tượng Đức khai nhận chiếc xe này mượn của ông Hồ Văn Lâm tuy nhiên quá trình điều tra không làm việc được với ông Lâm để làm rõ nguồn gốc xe. Qua kết quả giám định và tra cứu xác định: Xe này do ông Phạm Hồng D4 có đứng tên chủ sở hữu tuy nhiên ông D4 đã bán chiếc xe này cho người khác từ lâu, hai bên chỉ giao nhận xe chứ không làm hợp đồng mua bán cũng không sang tên nên ông D4 không còn nhớ rõ người mua. ông D4 không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tra cứu cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không ai liên hệ giải quyết. Xét thấy, chiếc xe chưa rõ nguồn gốc nên cần tiếp tục giao xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với đối tượng bán ma túy và đối tượng giao ma túy cho bị cáo D, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.

Đối với Trần Văn D5, quá trình điều tra xác định bị cáo D nhờ D5 chở đi công việc nhưng không nói rõ đi đâu, làm gì. Quá trình mua ma túy, bị cáo D thực hiện hành vi giao dịch một mình, sau đó cất giấu ma túy trên người thì D5 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như phần xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điểm 106; Điều 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 34/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương). Bên ngoài bì thư có chữ ký cán bộ niêm phong Võ Minh Trí, chữ ký Nguyễn Thanh D và hình dấu đỏ của Công an phường Thuận Giao, tỉnh Bình Dương (kèm theo Kết luận giám định số 34 ngày 30/12/2021).

- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, xử lý đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu DAELIMCKD, số loại 110, xy lanh 107cm3 biển số 59S1 – 095.88. Số khung RLPDCHDUM9B001965; số máy VS152FMH*498965*. Xe không bửng, không chìa khóa, không kiểm tra tình trạng bên trong (kèm theo kết luận giám định số 370A-1/KL-KTHS ngày 25/4/2022).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. /.

Cỡ chữ