vanban.org

Bản án 195/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Đông Nh và anh Nguyễn Hoàng H.

Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/6/2019 (nam) cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị Nh xác định không c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Đông Nh và anh Nguyễn Hoàng H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 8 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Ông Nguyễn Hoàng Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 282/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 05 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Đông Nh, sinh năm 1998 (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 203, Kinh C, khóm x, phường y, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Kinh Xáng B, khóm V, phường T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Huỳnh Thị Đông Nh trình bày tại đơn khởi kiện và biên bản ghi nhận ý kiến ngày 26/7/2022 như sau:

Về hôn nhân: Năm 2019, chị Nh và anh Nguyễn Hoàng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh H không quan tâm, chăm sóc vợ, con. Anh chị đã ly thân gần 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị Nh xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về nuôi con chung: Chị Nh và anh H có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/6/2019 (nam), đang sống với chị Nh. Khi ly hôn, chị Nh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị Nh xác định không có.

Do điều kiện đi làm ăn xa nên chị Nh yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết xét xử vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Hoàng H đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hoàng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Riêng chị Nh có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh chị.

[2] Về hôn nhân: Năm 2019, chị Huỳnh Thị Đông Nh và anh Nguyễn Hoàng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Nh trình bày: bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh H không quan tâm, chăm sóc vợ, con. Anh chị đã ly thân gần 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị Nh xác định không còn tình cảm và xin ly hôn với anh H. Về phía anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nh và anh H không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nh được ly hôn với anh H.

[3] Về nuôi con chung: Chị Nh và anh H có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/6/2019 (nam), đang sống với chị Nh. Khi ly hôn, chị Nh yêu cầu nuôi con. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, anh H không có ý kiến về việc chị Nh yêu cầu nuôi con. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị Nh không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị Nh xác định không có.

[6] Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Đông Nh và anh Nguyễn Hoàng H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/6/2019 (nam) cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung, nợ riêng: Chị Nh xác định không có.

4. Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 24/5/2022, chị Nh đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000001402 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ