- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V tranh chấp “Hợp đồng dân sự về tín dụng” với Bà Nguyễn Thị D"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 195/2022/DS-ST Ngày: 06-9-2022 V/v tranh chấp “Hợp đồng dân sự về tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phùng
2. Ông Trương Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hoài, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022,tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2022/TLST-DS,ngày
30 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp“Hợp đồng dân sự về tín dụng” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2022/QĐXXST- DS, ngày 01 tháng 8 năm 2022
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V.
Địa chỉ: Tổ 13, khóm Ph X, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh C, sinh
năm 1964. Địa chỉ: Khóm Phú X, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Theo văn bản ủy quyền số 45A/2022/QĐ-HĐQT ngày 20/4/2022).
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966.
2.2. Ông Lê Bảo H sinh năm 1956.
Cùng cư trú: tổ 02, ấp Tân Ph, xã Phú L, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Ông C, bà D, ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 30/3/2022, bản tự khai, các biên bản hòa giải
nguyên đơn do ôngTrần Thanh C đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Nguyễn Thị D là giáo viên của Trường Tiểu học A Phú Thạnh và chồng
là Lê Bảo H có làm đơn xin vay và cam kết trả nợ được trường xác nhận và giới thiệu vay vốn phục vụ sinh hoạt, cải thiện đời sống; thời hạn vay là 05 (năm) năm; trả lãi và gốc hàng tháng.
Ngày 29/10/2018, bà Nguyễn Thị D có vay của Quỹ tín dụng nhân dân
Chợ Vàm số tiền vốn 70.000.000đ, theo hợp đồng tín dụng số 421/18 ngày 29/10/2018; thời hạn vay 60 tháng, mục đích phục vụ vốn sản xuất nông nghiệp , lãi suất là 1%/ tháng (áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh theo thời diểm), hình thức trả vốn, lãi hàng tháng/lần. Quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị D thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm số tiền gốc là 25.350.000đ và lãi 10.073.000đ tính đến ngày 30/3/2020 thì không trả vốn và lãi; hiện còn nợ gốc là 44.6500.000 đồng và số tiền lãi 11.424.000 đồng, tạm tính đến ngày 31/3/2022). Khi đến hạn thanh toán nợ, Quỹ tín dụng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà D ông H không thực hiện thanh toán.
Quá trình Tòa án giải quyết, bà D ông H có trả vốn gốc 95.000đ, lãi
2.905.000đ nên hiện còn nợ Quỹ tín dụng sô tiền vốn vay là 44.555.000đ và lãi 10.972.000đ (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng là 55.527.000 đồng.
Nay yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H trả cho Quỹ tín dụng nhân
dân Chợ Vàm số tiền vốn gốc còn nợ là 44.555.000đ và lãi 10.972.000đ (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng là 55.527.000 đồng và tiếp tục trả lãi theo quy định pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân,tỉnh An Giang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm p hán, Hội đồng
xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự theo khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa,Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Tuy nhiên, bà D và ông H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
- Về nội dung: Căn cứ vào chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra
tại phiên tòa có đủ căn cứ để buộc bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng vốn vay là 44.555.000đ và lãi 10.972.000đ (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng là 55.527.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H có trách
nhiệm trả cho Quỹ tín dụng vốn vay là 44.555.000đ và lãi phát sinh theo hợp
đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng dân sự về
tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Tân Phú, xã Phú
Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại khoản 3
Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Đại diện của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Tòa án đã tiến
hành cấp tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết
định hoãn phiên tòa theo quy định tại CH X của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị
đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn
cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Quỹ tín dụng nhân dân Chợ V yêu cầu bà Nguyễn
Thị D và ông Lê Bảo H trả vốn vay 44.555.000đ, lãi phát sinh theo hợp đồng tín
dụng. Xét, tuy bà D ông H không cung cấp lời khai, trình bày ý kiến về yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn nhưng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để xác định: Hợp đồng tín dụng số
số 421/18 ngày 29/10/2018 được xác lập giữa Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm
với bà D trên cơ sở tự nguyện, hai bên đã ký nhận đủ tiền vay; nội dung và hình
thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều Điều 116, 117 Bộ luật dân sự năm
2015 và phù hợp Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà D đã trả
vốn 25.445.000đ, lãi 12.978.000đ (10.073.000đ + 2.905.00đ), thì ngưng đến nay
không trả vốn cũng không trả lãi, dù ông bà đã nhiều lần làm cam kết trả nợ
nhưng vẫn không thực hiện là đã vi phạm Điều 5 Hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ
thanh toán. Việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Qũy tín
dụng nhân dân Chợ Vàm, do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vốn
vay và lãi phát sinh là có cơ sở chấp nhận.
Tổng vốn vay và lãi tính đến ngày xét xử (06/9/2022),bị đơn có nghĩa vụ
phải trả cho nguyên đơn là: vốn 44.555.000 đồng + lãi phát sinh theo hợp đồng
tín dụng là 10.972.000đ=55.527.000đ
Đối với yêu cầu buộc trách nhiệm liên đới: Quỹ tín dụng yêu cầu ông H
có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Quỹ tín dụng; Xét thấy, theo quy định của
pháp luật thì, nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực
hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ
phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Theo quy định Luật hôn nhân gia đình năm 2014
thì vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện
nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác p hù hợp quy định về đại diện giữa vợ, chồng. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu quy định của pháp luật, có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định: tuy giao dịch được thực hiện bởi bà D nhưng ông H biết việc bà D ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền là dùng để bổ sung vốn sản xuất của gia đình, điều này được chứng minh bởi “đơn xin vay và cam kết trả nợ ngày 26/10/2018” do bà D ông H cùng ký tên. Mặt khác, Hợp đồng tín dụng nêu trên do bà D ký kết phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà D với ông H (có xác nhận của địa pH về quan hệ hôn nhân của ông bà), mục đích vay là nhằm bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp phát triển kinh tế gia đình. Như phân tích trên, thì việc bà D ký kết hợp đồng tín dụng với Quỹ tín nhân dân Chợ Vàm để vay tiền là nhằm để p hục vụ p hát triển kinh tế gia đình nên ông H phải là người cùng chịu trách nhiệm liên đới như nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 288, Điều 289 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Quỹ tín dụng không p hải chịu tiền án phí sơ thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
+ Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288 Bộ luật
dân sự năm 2015;
+ Các Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
+ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 về hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
+ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Tuyên xử:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân
Chợ Vàm đối với bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H; về việc trả vốn vay,lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng.
+ Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H có nghĩa vụ liên đới trả cho
Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm số tiền vốn vay 44.555.000đ và lãi 10.972.000đ (tính đến ngày 06/9/2022). Tổng cộng vốn và lãi là 55.527.000đ.
+ Kể từ ngày 07/9/2022, bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H còn phải
chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 421/18 ngày 29/10/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Quỹ tín dụng nhân dân Chợ Vàm không phải chịu án phí nên được nhận
lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
1.400.000đ số 0004423 ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
+ Bà Nguyễn Thị D và ông Lê Bảo H phải chịu án phí là 2.776.000đ.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống
đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người p hải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân, AG; - Chi cục THA.DS huyện; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hs, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Bích Tuyền |