vanban.org

Bản án 195/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357; điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt Giao các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn S - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357; điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2021/HSPT
Ngày: 07-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh Vân.

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường, bà Lê Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy – Thư ký TAND tỉnh ĐắkLắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 07/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 203/2021/TLPT-HS, ngày 19 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo Đặng Văn S và 01 bị cáo về tội: “Hủy hoại rừng”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2021/HS-ST, ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Đặng Văn S, sinh năm 1992, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn S, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Đặng Văn R, sinh năm 1969 và bà Triệu Thị M (đã chết); Có vợ Rơ Mah K và có 02 con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Họ và tên: Rơ Mah K, sinh năm 1998, tại huyện I, tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn S, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Rơ Mah R, sinh năm 1959 và bà Rơ Mah M, sinh năm 1970. Có chồng Đặng Văn S và có 02 con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Tạ Quang T – Văn phòng luật sự T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk: có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn S, Rơ Mah K là vợ chồng và cư trú tại thôn S, xã C, huyện M. Quá trình sinh sống S và K phát hiện gần nương rẫy của mình tại thôn S, xã C còn một số diện tích đất trống bỏ hoang không có cây rừng, một khu vực đất rừng tự nhiên còn nguyên sinh chưa bị khai phá nằm liền kề với khu vực đất bị bỏ hoang. Sau tết Nguyên đán năm 2020, S, K có nhu cầu mở rộng thêm diện tích đất để trồng keo nên đã bàn bạc với nhau phát dọn diện tích đất bị bỏ hoang phá khu rừng tự nhiên nêu trên để lấy đất trồng cây keo. Khoảng tháng 02 năm 2020, S và K đã cùng nhau sử dụng 01 máy cưa lốc, 02 con dao phát của gia đình để phát dọn và phá diện tích đất rừng mà S và K đã bàn bạc trước đó. Tại đây S và K dùng dao phát chặt hạ và phát dọn các cây bụi, lồ ô, dây leo, cỏ tranh và những cây thân gỗ nhỏ có đường kính khoảng dưới 10cm, còn các thân cây gỗ có đường kính lớn hơn 10cm thì S dùng cưa lốc cắt hạ. Cả hai cùng nhau làm được khoảng 01 tháng thì thấy diện tích rừng khai phá đã làm đủ nên không làm nữa. Sau đó S và K để phơi nắng tự nhiên các phần thân cây đã bị chặt phá và cắt hạ được cho khô ráo rồi sẽ đốt cháy. Khoảng đầu tháng 04 năm 2020, nhận thấy các phần thân cây này đã khô ráo hẳn nên S và K châm lửa đốt cháy để dọn dẹp toàn bộ diện tích đất rừng mà cả hai đã phá và phát dọn được nêu trên. Sau khi đốt xong, cả hai đợi mùa mưa đến sẽ tiến hành xuống giống trồng cây keo trên diện tích đất này.

Ngày 16/04/2020, Uỷ ban nhân dân xã C phối hợp với cán bộ kiểm lâm địa bàn xã C tổ chức kiểm tra rừng tại thôn S thì phát hiện tại đây có một số diện tích rừng bị chặt phá và đốt cháy trái phép nhưng chưa xác định được đối tượng nên ngày 17/06/2020, Hạt kiểm lâm huyện M phối hợp cùng Công an huyện M’Đrắk, Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk và Uỷ ban nhân dân xã C tổ chức khám nghiệm hiện trường nơi rừng bị huỷ hoại thì xác định vị trí rừng bị huỷ hoại là thuộc các lô 21, 22, 27, 28, 33, 34, 35, 43, 44, 45, 46 và 50, khoảnh 6 Tiểu khu 821 thuộc địa phận thôn S, xã C với tổng diện tích bị huỷ hoại là 4,628ha đều là rừng tự nhiên do Uỷ ban nhân dân xã C quản lý. Hạt kiểm lâm huyện M đã tiến hành xác minh làm rõ vụ việc, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk đã tiến hành trưng cầu giám định diện tích rừng bị huỷ hoại để có căn cứ xử lý vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.

Đang trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk điều tra vụ án thì đến ngày 31/07/2020, sau khi nhận thấy lượng mưa đã đủ đảm bảo để xuống giống trồng keo nên Đặng Văn S liên hệ thuê anh Ma Seo C cùng một số người dân tại địa phương đến trồng cây keo non cho vợ chồng S và K trên toàn bộ diện tích đất mà vợ chồng S và K đã phá trước đó. Ngày 01/08/2020, trong khi Ma Seo C và mọi người đang trồng keo thì bị Công an huyện M’Đrắk phát hiện, sau khi làm việc với S và K thì cả hai đã thừa nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 20/11/2020, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk đã tiến hành thực nghiệm điều tra để các đối tượng Đặng Văn S và Rơ Mah K chỉ dẫn lại chính xác toàn bộ vị trí và diện tích rừng mà S và K đã phá được thì xác định tổng số diện tích rừng mà Đặng Văn S và Rơ Mah K đã phá được là 3,81ha (Ba phẩy tám mươi mốt héc ta), trong đó: Tại các lô 21, 22, 27, 28, 33, 35, 43, 44, 45 và 46 có diện tích bị huỷ hoại là 1,55ha; lô 34 diện tích bị huỷ hoại là 2,26ha.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung ngày 19/01/2021 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk thể hiện:

- Diện tích và vị trí rừng mà Đặng Văn S và Rơ Mah K huỷ hoại theo kết quả thực nghiệm điều tra vào ngày 20/11/2020 là trùng khớp và nằm trong diện tích rừng bị huỷ hoại theo Kết luận giám định ngày 24/06/2020 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk (Có bản đồ so sánh vị trí giữa hai diện tích nêu trên).

- Toàn bộ diện tích rừng 3,81ha do Đặng Văn S và Rơ Mah K huỷ hoại nêu trên có 190 (Một trăm chín mươi) cây gỗ bị huỷ hoại; tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 27,954m3.

- Chủng loại, nhóm gỗ: Kết luận giám định tập thể ngày 24/06/2020 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, không xác định chủng loại, nhóm gỗ nên tổ không có cơ sở giám định.

Ngày 28/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ban hành văn bản số 74 yêu cầu Hội đồng định giá (HĐĐG) trong tố tụng hình sự huyện M định giá thiệt hại về rừng đối với 1,55ha diện tích rừng bị huỷ hoại tại thời điểm tháng 02 năm 2020 là bao nhiêu tiền VNĐ? Làm rõ cả hai tiêu chí: Giá trị thiệt hại về lâm sản và giá trị thiệt hại về môi trường đối với diện tích rừng 1,55ha.

Ngày 29/01/2021, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện M ban hành văn bản số 01 trả lời như sau: Hội đồng định giá xét thấy: Việc áp dụng khung giá các loại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trước đây căn cứ theo Quyết định số19/2013/QĐ-UBND ngày 16/07/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tuy nhiên đến nay văn bản này đã hết hiệu lực và chưa có văn bản thay thế, mặt khác đối với tài sản yêu cầu định giá (1,55ha đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên có trạng thái là rừng thường xanh) theo Kết luận giám định ngày 24/06/2020 và Kết luận giám định bổ sung ngày 19/01/2021 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk chưa xác định được chủng loại, nhóm lâm sản bị thiệt hại. Do đó, Hội đồng định giá không đủ cơ sở để định giá và chuyển trả lại hồ sơ cho Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk.

Tại Bản kết luận giám định ngày 24/06/2020 của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk thì tổng diện tích rừng bị huỷ hoại là 4,617ha (Bốn phẩy sáu một bảy héc ta) trên tổng cộng 12 lô rừng đều thuộc khoảnh 6, tiểu khu 821 thuộc thôn S, xã C, huyện M, trong đó:

- Lô 34 diện tích bị huỷ hoại là 2,447 ha (Hai phẩy bốn bốn bảy héc ta) là trạng thái đất trống có cây gỗ tái sinh, chưa có rừng, được quy hoạch là rừng sản xuất và không có trữ lượng gỗ bị thiệt hại.

- Các lô 21, 22, 27, 28, 33, 35, 43, 44, 45, 46 và 50 bị huỷ hoại với tổng diện tích là 2,170ha (Hai phẩy một bảy héc ta) đều là rừng sản xuất có nguồn gốc là rừng tự nhiên với trạng thái là rừng thường xanh. Tổng số trữ lượng gỗ bị thiệt hại tại các lô này là 41,306m3 (Bốn mươi mốt phẩy ba không sáu mét khối).

- Chủng loại, nhóm lâm sản bị thiệt hại: Hiện trường chặt, phá, đốt bị xáo trộn, cháy không còn nguyên vẹn đặc điểm nhận biết (gỗ, cành, lá, vỏ, nhựa cây gỗ; màu sắc, mùi hương, vân gỗ…) và do một số cây gỗ nằm trong hiện trạng rừng thường xanh rất đa dạng về chủng loại, nhóm gỗ. Tổ giám định tập thể của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk không có cơ sở để xác định chủng loại, nhóm lâm sản bị thiệt hại vượt quá khả năng chuyên môn nên các thành viên giám định thống nhất từ chối giám định đối với nội dung yêu cầu giám định: Chủng loại, nhóm của lâm sản bị thiệt hại.

* Vật chứng thu giữ: 01 máy cưa lốc màu đỏ - trắng, đã cũ và qua sử dụng, dưới gầm máy có ký hiệu PA6GF, lưỡi lam dài 50cm; 01 con dao phát bằng kim loại, đã cũ và qua sử dụng, có tổng chiều dài 38cm; phần cán dao dài 10cm, dạng khoanh tròn đường kính 3,5cm và rỗng bên trong; 01 con dao phát bằng kim loại, đã cũ và qua sử dụng, có tổng chiều dài 38cm, phần cán dao dài 10cm, dạng khoanh tròn đường kính 3,5cm và rỗng bên trong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2021/HS-ST, ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K phạm tội: “Hủy hoại rừng”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Rơ Mah K 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 03/6/2021. Giao bị cáo Rơ Mah K cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Rơ Mah K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định các biện pháp tư pháp khác và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 14/6/2021, bị cáo Đặng Văn S kháng cáo bản án xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; Bị cáo Rơ Mah K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30/8/2021 các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K có đơn trình bày hoàn cảnh và đề nghị Hội đồng phúc thẩm xem xét xử vắng mặt các bị cáo, các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; Ngày 06/9/2021, người bào chữa cho bị cáo Luật sư Tạ Quang T – Văn phòng luật sự T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk có đơn xem xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung bào chữa đối với các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo phạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình xét xử phúc thẩm, các bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới (các bị cáo tiếp tục tự nguyện nộp thêm số tiền 5.000.000đ) vào ngân sách nhà nước nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, hoàn cảnh gia đình các bị cáo thực sự khó khăn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357; điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rơ Mah K và một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Văn S, giảm hình phạt cho các bị cáo.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hìnhphạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Rơ Mah K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 03/6/2021.

Đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) mà các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo Biên lai thu số 60AA/2021/0002373 ngày 31/8/2021.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2021/QĐXXPT-HS ngày 26/8/2021 và giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ, ngày 30/8/2021 các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K có đơn trình bày hoàn cảnh, do diễn biến dịch bệnh Covid 19 đang phức tạp nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm xem xét xử vắng mặt các bị cáo, các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 BLTTHS, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với các bị cáo.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập, đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Sau khi các bị cáo có hành vi hủy hoại rừng, các cơ quan chuyên môn phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để tiến hành lập biên bản sơ đồ hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các bị cáo có mặt và chính các bị cáo đã chỉ từng vị trí cụ thể khu vực mà các bị cáo tham gia chặt phá 3,81 ha rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất tại khoảnh 06, tiểu khu 821 thuộc địa phận thôn Sông C, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, diện tích rừng do các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm và cơ quan chức năng đã xác định được khu vực rừng mà các bị cáo hủy hoại đã được làm rõ về tọa độ, vị trí và hiện trạng.

Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: từ đầu tháng 02 năm 2020 đến cuối tháng 03 năm 2020, do cần đất để trồng rừng nhưng không xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Đặng Văn S và Rơ Mah K đã sử dụng cưa lốc, dao phát chặt phá, huỷ hoại diện tích 3,81 ha rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất tại khoảnh 06, tiểu khu 821 thuộc địa phận thôn S, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo và các chứng cứ mới do các bị cáo cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; phân hóa vai trò, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làm căn cứ xử phạt các bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bên cạnh đó đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là phát phá rừng để trồng cây keo phát triển kinh tế gia đình. Hành vi của các bị cáo diễn ra công khai trong một khoảng thời gian dài nhưng không có các đơn vị chức năng kịp thời nhắc nhở chấn chỉnh, ngăn chặn. Sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo Đặng Văn S có thời gian phục vụ trong quân đội và được tặng “Giấy khen” vì đã có thành tích tốt trong thực hiện phong trào thi đua.

Bên cạnh đó, sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo tiếp tục tự nguyện nộp thêm số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) vào ngân sách Nhà nước nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, đây là tình tiết mới cần áp dụng bổ sung cho các bị cáo. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, (áp dụng thêm Điều 54 BLHS đối với bị cáo Rơ Mah K) giảm cho các bị cáo một phần hình phạt và không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo ngoài xã hội, lao động nuôi các con nhỏ cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M (theo biên lai thu tiền số 60AA/2021/0002373 ngày 31/8/2021) nhằm khắc phục hậu quả do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận và tuyên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Vì các lẽtrên,

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357; điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2021/HS-ST ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt.

[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 07/9/2021.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Rơ Mah K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 03/6/2021.

Giao các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Đặng Văn S và Rơ Mah K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) mà các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo Biên lai thu số 60AA/2021/0002373 ngày 31/8/2021.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016, ngày 30/12/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Đặng Văn S, Rơ Mah K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ