- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đoàn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195/2021/HS-ST Ngày: 24-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Trâm và ông Phạm Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2021/QĐXXST-HS ngày 09-11-2021 đối với:
Bị cáo: Phạm Đoàn T, sinh năm 1973 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Thanh S, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu Th (đã chết) và bà Đoàn Thị B; Vợ bà Trần Thị Kim L và 02 con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Ngày 04/6/1997, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 1742CT, với thời hạn 24 tháng;
Ngày 05/10/2000, bị Công an phường Thanh S, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 50.000đ về hành vi “Đánh nhau”;
Ngày 12/01/2001, bị Công an phường Thanh S, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 100.000đ về hành vi “Đánh nhau”;
Ngày 03/4/2001, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 1288/QĐ, với thời hạn 24 tháng;
Ngày 25/6/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” theo Bản án số 29/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2003.
Ngày 20/5/2013, bị Công an thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, với số tiền 750.000 đồng;
Ngày 11/8/2014, bị Công an phường Thanh S, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, với số tiền 1.500.000 đồng;
Ngày 14/11/2014, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy phép quy định tại điểm c, khoản 5, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính Phủ”, với số tiền 15.000.000 đồng;
Ngày 25/12/2015, bị Công an tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, với số tiền 500.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/8/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân V, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 6, phường Đạo L, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 02/8/2021, Tổ tuần tra phòng chống tội phạm Công an phường Mỹ B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy tiến hành tuần tra trên tuyến đường Bùi Thị X. Khi đến gần Ủy ban nhân dân phường Mỹ B, thuộc khu phố 5, phường Mỹ B, TP. P thì phát hiện Phạm Đoàn T đang điều khiển xe mô tô, hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số: 85N1-7905, có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu dừng xe để kiểm tra, phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái của T có: 04 bịch nylon được hàn kín các đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy, ký hiệu M1); 01 bịch nylon dạng miệng khép dính, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy, ký hiệu M2). Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ: 01 điện thoại cảm ứng, hiệu Vivo, màu xanh; 01 điện thoại cảm ứng, hiệu Redmi, màu đen; 01 điện thoại bàn phím, hiệu Nokia, màu trắng, gắn sim số: 0939313282; số tiền: 7.493.000 đồng; 01 xe mô tô, hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số: 85N1-7905.
Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ 45 phút ngày 02/8/2021, Phạm Đoàn T đã gặp 02 người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đang uống cà phê ở gần nhà của T, trong đó có một người tên Ng ở huyện Tuy P, tỉnh Bình Thuận, T hỏi mua ma túy của Ng thì Ng đồng ý bán, hẹn sẽ gọi điện thoại lại cho T. Sau đó, Ng gọi vào điện thoại bàn phím, hiệu Nokia, gắn sim số: 0939313282 của T kêu xuống ngã 5 bãi biển Bình S, thuộc phường Mỹ B, TP. P để lấy ma túy nên T điều khiển xe mô tô, hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số: 85N1-7905 chạy đến điểm hẹn thì nhìn thấy một người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi cùng với Ng. Tại đây, Ng bán cho T 05 bịch ma túy đá, với giá: 3.000.000 đồng, T cất giấu số ma túy trên vào bên trong túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô chạy về, với mục đích để sử dụng. Khi đến gần Ủy ban nhân dân phường Mỹ B thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên, nên mời T về trụ sở Công an phường Mỹ B để làm việc.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Bản kết luận giám định số 142/KLGĐ-PC09 ngày 06/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 04 bịch nylon gửi đến giám định (ký hiệu M1) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,7035gam. Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon dạng miệng khép dính gửi đến giám định (ký hiệu M2) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,8398gam. Hoàn lại sau giám định M1 là: 0,6620gam; M2 là: 0,7933gam, cùng với các bao gói gửi đến giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân TP. Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 178/CT-VKSPRTC ngày 20-10-2021 của Viện kiểm sát TP. Phan Rang – Tháp Chàm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Đoàn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đoàn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù và xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận và nói Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội động xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 02/8/2021, tại tuyến đường Bùi Thị X, gần Ủy ban nhân dân phường Mỹ B thuộc khu phố 5, phường Mỹ B, TP. P, Phạm Đoàn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 1.5433gam nhằm mục đích sử dụng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 178/CT-VKSPRTC ngày 20-10-2021 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Phạm Đoàn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của nhà nước. Ma túy không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích sử dụng là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhân thân xấu. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp nhưng thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với một người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và một người tên Ng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ở huyện Tuy P, tỉnh Bình Thuận đã bán ma túy cho Phạm Đoàn T. Quá trình điều tra chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thư Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận đã niêm phong, bên ngoài có hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký ghi họ tên Trần Huy Hòa, Nguyễn Nghi Anh, Trần Đăng Doanh, Lê Đình Lượng. Bên trong bì thư có chứa 1,4553gam chất ma túy, loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định), cùng toàn bộ bao gói gởi đến giám định. Đây là chất ma túy, vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên phải tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng, gắn sim số: 0939.313.282, số Serial 359579052301827 của Phạm Đoàn T. Đây là phương tiện dùng liên lạc để mua ma túy nên phải tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Vivo, màu xanh; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Redmi, màu đen; số tiền: 7.493.000đồng của Phạm Đoàn T, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô, hiệu Sirius, màu đen bạc, biển số: 85N1-7905, thuộc quyền sở hữu của ông Trần Xuân V. Khi cho mượn xe, ông V không biết Phạm Đoàn T sử dụng xe của mình để đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho ông V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo Phạm Đoàn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Điều 38, 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đoàn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Đoàn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 02-8-2021.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận đã niêm phong, bên ngoài có hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký ghi họ tên Trần Huy H, Nguyễn Nghi A, Trần Đăng D, Lê Đình L. Bên trong bì thư có chứa 1,4553gam chất ma túy, loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định), cùng toàn bộ bao gói gởi đến giám định.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng, gắn sim số: 0939313282, số Serial 359579052301827 của Phạm Đoàn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-10-2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.)
Về án phí: Bị cáo Phạm Đoàn T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Nhà tạm giữ CA TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - UBND P. Thanh Sơn, TP. PR-TC; - Bị cáo; Người có QL&NVLQ; - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |