vanban.org

Bản án 195/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị Quỳnh G đối với anh Trần Hữu Đ. Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị Quỳnh G được ly hôn với anh Trần Hữu Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 195/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 04/6/2021
V/v tranh chấp ly hôn, về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Ông Tô Ngọc Liêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 764/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2021/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị Quỳnh G, sinh năm 1991; địa chỉ: số 368, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Hữu Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn chị Châu Thị Quỳnh G trình bày: Chị và anh Trần Hữu Đ tự tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cách nay khoảng hơn 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng không quan tâm gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều và không còn chung sống từ đó đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Hữu Đ. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014 (hiện do chị G chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị G yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị G có yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Trần Hữu Đ được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc G nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Bà Châu Thị Quỳnh G và ông Trần Hữu Đ, quen biết, tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mong Thọ, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ngày 04/8/2014, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Sau thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, thường hay cự cãi và đã ly thân. Nau, bà G yêu cầu ly hôn với ông Đ. Xét thấy, bà G và ông Đ xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân với nhau, bà G yêu cầu ly hôn, Tòa án triệu tập ông Đ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà G. Thấy rằng, mâu thuẫn giữa ông, bà đã trầm trọng, không tạo cơ hội cho nhau để hàn gắn. Vì vậy, việc yêu cầu ly hôn của bà G là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014, hiện, cháu N đang sống chung với bà G, bà G yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc G con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc nuôi dưỡng cần xem xét đến điều kiện phát triển của con chưa thành niên. Từ khi ly thân cho đến nay, cháu Nam sống với bà G vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, ông Đ không có tranh chấp về việc nuôi con. Để đảm bảo cuộc sống cho cháu N, nghĩ nên tiếp tục G cháu cho bà G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà G yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi cháu N đến khi thành niên và có khả năng lao động. Xét thấy, ông Đ không trực tiếp nuôi con chung thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Bà G không cung cấp về thu nhập hợp pháp của ông Đ nên chỉ có cơ sở buộc ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật tương đương 750.000đồng/tháng/cháu. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Châu Thị Quỳnh G đối với ông Trần Hữu Đ.

- Bà Châu Thị Quỳnh G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014. Ông Trần Hữu Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 750.000đồng/tháng, đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Nguyên đơn chị G yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Đ, anh Đ có nơi cư trú ấp T, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2 Nguyên đơn chị G có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G, anh Đ là có căn cứ.

3 Chị G yêu cầu ly hôn với anh Đ. Chị G và anh Đ có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị G trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến cách nay khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Đ không quan tâm đến gia đình, thường hay cãi vã nên mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn và không còn chung sống từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, chị G yêu cầu ly hôn với anh Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc chị G yêu cầu ly hôn và triệu tập anh Đ tham gia các phiên họp về kiểm tra việc G nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị G. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị G và anh Đ xuất phát từ việc không đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Đ không quan tâm chăm sóc gia đình nên thường hay cãi vã, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn trầm trọng và không còn chung sống từ năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, chị G xác định vợ chồng có 01 con chung tên Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014 (hiện do chị G chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị G yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu N do chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết anh G không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị G. Bên cạnh đó, cháu N có nguyện vọng được sống cùng m . Do đó, để chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N là phù hợp với pháp luật và nguyện vọng của cháu.

5 Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, người không trực tiếp nuôi con, phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Điều này, thể hiện trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên và tạo điều kiện cho người trực tiếp nuôi con có điều kiện nuôi con được tốt hơn. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị G, buộc anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật với mức cấp dưỡng 750.000đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động là phù hợp.

6 Về quan hệ tài sản chung: Chị G trình bày, không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

7 Về quan hệ nợ chung: Chị G trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

8 Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị Quỳnh G đối với anh Trần Hữu Đ.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị Quỳnh G được ly hôn với anh Trần Hữu Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01, ngày 04 tháng 8 năm 2014 do Ủy ban nhân dân xã Mong Thọ, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp cho chị Châu Thị Quỳnh G và anh Trần Hữu Đ không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Châu Thị Quỳnh G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014 (hiện do chị G chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Trần Hữu Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 750.000đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Hạo N, sinh ngày 02/11/2014, thành niên và có khả năng lao động.

Chị Châu Thị Quỳnh G cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Hữu Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc chị Châu Thị Quỳnh G xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị Châu Thị Quỳnh G và anh Trần Hữu Đ phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Châu Thị Quỳnh G phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0013667 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 20/10/2020. Chị G đã nộp đủ án phí.

Anh Trần Hữu Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được G hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ