vanban.org

Bản án 195/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Kiều Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

điểm i khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Kiều Duy C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Kiều Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2020/HSST
Ngày: 14/10/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Nguyên Bền

2. Ông Nguyễn Văn Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Bà Trƣơng Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 188/2020/TLST-HS ngày 21/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kiều Duy C; Sinh năm: 1973; Nơi cư trú: số X, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên Cha: Kiều Duy L (sinh năm: 1932); Họ tên Mẹ: Lê Thị C (Đã chết); Danh chỉ bản số: 258 lập ngày 14/6/2020 tại Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;

TATS: 06 tiền sự ngoài thời hiệu; 04 tiền án đã xóa

+ Tiền án:

- Ngày 27/3/1990, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù án treo, 12 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản (AS: 140/HSPT). Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.200.000 đồng - Án tích đã được xóa;

- Ngày 14/3/1992, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích và Trộm cắp tài sản (AS: 156A/HSPT). Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 100.000 đồng - Án tích đã được xóa;

- Ngày 22/8/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (AS: 1016/HSST). Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 700.000 đồng - Án tích đã được xóa;

- Ngày 29/6/2006, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (AS: 245/HSST). Chấp hành xong hình phạt là 10/01/2009. Xác minh tại Chi cục THA dân sự quận Hoàn Kiếm: Đã nộp án phí HSST - Án tích đã được xóa;

+ Tiền sự: Từ năm 2000 đến năm 2016, 06 tiền sự về các hành vi trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng, đưa đi cơ sở giáo dục, đưa đi chữa bệnh bắt buộc, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tạm giữ: 09/6/2020

Tạm giam: 15/6/2020

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08/6/2020, tổ công tác Công an phường Hàng Mã làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn, khi đi đến trước cửa số 277 Phúc Tân, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội phát hiện Kiều Duy C có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, C lấy từ trong túi quần bò phía trước bên trái ra 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 bên trong có 01 bọc băng dính màu đen, bên trong có 01 gói giấy màu xanh chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác và tự khai là ma túy heroine mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa C cùng tang vật về trụ sở để làm việc.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại tầng 3 số nhà 2X, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội nơi C ăn ở sinh hoạt thu gồm: Trên đệm có 01 túi ni lông kích thước 3x5cm bên trong có 03 gói giấy cuốn băng dính màu đen đều chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng bên trong có sim số 0912390052 và 0946406863 (kiểm tra điện thoại có tin nhắn từ số điện thoại 0389882446 đến số điện thoại 0946406863 của C trao đổi mua bán ma túy); Tại kệ giá sách treo trên tường có 01 ví da màu vàng nhạt bên trong 01 túi ni lông kích thước 3x5cm chứa tinh thể màu trắng; Tại sàn nhà cạnh cửa ra vào có 01 ví da màu nâu đen có 01 túi ni lông kích thước 1,5x1,5cm chứa ¼ viên nén màu đỏ; 01 túi ni lông kích thước 2,5x2,5cm chứa 07 viên nén màu đỏ; 01 túi ni lông kích thước 3x4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông kích thước 3x5cm bên trong 10 gói giấy cuốn băng dính màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 túi ni lông kích thước 2,5x2,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng; Tại góc nhà dưới sàn có 04 coóng bằng thủy tinh.

Tại Kết luận giám định số 4722/KLGĐ-PC09 ngày 18/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận tang vật thu giữ của Kiều Duy C:

- Tang vật quả tang: Chất bột trắng bên trong 01 gói giấy bọc ngoài bằng băng dính đen khối lượng 0,277 gam là ma túy loại Heroine;

- Tang vật khám xét nơi ở: Chất bột trắng bên trong 03 gói giấy quấn ngoài bằng ni lông đen tổng khối lượng 0,296 gam đều là ma túy loại Heroine; Tinh thể trắng bên trong 01 túi ni lông khối lượng 12,290 gam không tìm thấy chất ma túy; 07 viên và 01 mảnh viên nén màu đỏ bên trong 02 túi ni lông tổng khối lượng là 0,743 gam đều là ma túy loại Methamphetamine; Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông kích thước 3x4cm tổng khối lượng 0,740 gam đều là ma túy loại Methamphetamine; Chất bột trắng bên trong 10 gói giấy quấn ngoài bằng ni lông màu đen tổng khối lượng 0,453 gam đều là ma túy loại Heroine; Tinh thể trắng bên trong 01 túi ni lông kích thước 2,5x2,5cm khối lượng 0,131 gam là ma túy loại Ketamine; 04 coóng thủy tinh đều dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Kiều Duy C khai: Bản thân C là người nghiện ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 07/6/2020, C có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã một mình đến khu vực xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy của 01 người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi với giá 950.000 đồng các loại ma túy Heroine, Hồng phiến. Sau khi mua về, C cất giấu tại nơi ở với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ ngày 08/6/2020, C lấy 01 gói Heroine gói bằng giấy màu xanh và quấn băng dính màu đen cho vào bao thước lá 555 cất trong túi quần bên trái mục đích để sử dụng. C xuống trước cửa nhà để dọn hàng cho chị gái là Kiều Thị M thì bị kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Khám xét thu giữ tại nhà C là ma túy của C với mục đích sử dụng. Chiếc điện thoại bị thu giữ có nội dung tin nhắn đến liên quan đến mua bán ma túy C không biết ai nhắn tin đến và gọi C thì C có nghe nhưng không thấy ai trả lời.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rút list số điện thoại 0389882446 và xác định chủ thuê bao là Nguyễn Đức A (sinh năm: 1991, trú tại: thôn T, xã M, huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, Đức A khai không sử dụng số điện thoại 0389882446 và không liên quan đến hành vi của Kiều Duy C nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ hiện có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; lời khai nhận tội của Kiều Duy C phù hợp với kết luận giám định, thu giữ điện tín, các cuộc gọi đến đi trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng bên trong có sim số 0946406863 thì có đủ căn cứ kết luận: Toàn bộ số ma túy thu giữ khi C đang cất giấu thì bị bắt quả tang và số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở là do C mua một lần (một nguồn) mục đích để sử dụng, chưa đủ căn cứ chứng minh C cất giấu ma túy với mục đích bán kiếm lời. Khối lượng các chất ma túy gồm Heroine, Methamphetamine và Ketamine (có từ 02 chất ma túy trở lên) thu giữ của C được quy định tại các điểm khác nhau quy định tại Điều 249 BLHS nên phải được quy đổi theo Theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì được quy đổi như sau:

+ 1,026 gam ma túy loại Heroine (0,277 gam + 0,296 gam + 0,453 gam) và 1,483 gam ma túy loại Methamphetamine (0,743 gam + 0,740 gam) có tổng khối lượng là 2,509 gam được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và quy đổi = 50,18% (so với khối lượng chất ma túy tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS);

+ 0,131 gam ma túy loại Ketamine được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS và quy đổi = 0,655% (so với khối lượng chất ma túy tối thiểu quy định tại điểm l khoản khoản 2 Điều 249 BLHS).

Tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy thu giữ của Kiều Duy C nhằm mục đích sử dụng so với khối lượng ma túy tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS: 50,18% + 0,655% = 50,835% nên hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của Kiều Duy C được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại bản cáo trạng số 178/CT-VKS ngày 17/9/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Kiều Duy C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người bán ma túy cho C, do C không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện để xác minh làm rõ để xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 36 đến 42 tháng tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: ma túy, 01 ví da màu vàng nhạt, 01 ví da màu nâu đen, 04 coóng bằng thủy tinh, 01 vỏ bao thuốc lá 555, 02 sim điện thoại (sim số 0912390052 và 0946406863). Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08/6/2020, Kiều Duy C có hành vi cất giấu trái phép các chất ma túy (có 02 chất ma túy trở lên) trong người và nơi ở nhằm mục đích sử dụng gồm: 1,026 gam ma túy loại Heroine, 1,483 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,131 gam ma túy loại Ketamine thì bị phát hiện, khám xét, bắt quả tang cùng tang vật tại trước cửa số X, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được ma túy là loại độc dược có hại cho sức khỏe của con người. Hành vi tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng của bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần có mức hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án, 06 tiền sự, tuy các tiền án, tiền sự đều đã được xóa và ngoài thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục phạm tội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần xử phạt tù giam nghiêm khắc. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xem xét bị cáo khai báo thành khẩn để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử lý tang vật:

- Ma túy còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tinh thể trắng không tìm thấy chất ma túy, 02 ví da, 02 sim điện thoại, 04 coóng thủy tinh không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Kiều Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng:

+ điểm i khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

+ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 107, 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

3. Xử phạt: bị cáo Kiều Duy C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2020.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

4. Tang vật:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 túi nilông kích thước 3x5cm bên trong có 03 gói giấy quấn băng dính màu đen chứa ma túy Heroine, tổng khối lượng ban đầu 0,296 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,019 gam, khối lượng còn lại là 0,277 gam);

- 01 túi nilông kích thước 3x5cm chứa tinh thể màu trắng, không tìm thấy chất ma túy, khối lượng ban đầu 12,290 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,492 gam, khối lượng còn lại là 11,798 gam);

- 02 túi nilông kích thước 2,5x2,5cm và 1,5x1,5cm chứa: 07 viên nén màu đỏ và ¼ viên nén màu đỏ đều là ma túy loại Methamphetamine tổng khối lượng ban đầu 0,743 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,143 gam, khối lượng còn lại là 0,600 gam);

- 02 túi nilông kích thước 3x4cm đều chứa ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng ban đầu 0,740 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,060 gam, khối lượng còn lại là 0,680 gam);

- 01 túi nilông kích thước 3x5cm có 10 gói giấy quấn băng dính màu đen đều chứa ma túy loại Heroine, tổng khối lượng ban đầu 0,453 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,048 gam, khối lượng còn lại là 0,405 gam);

- 01 túi nilông kích thước 2,5x2,5cm chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng ban đầu 0,131 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,022 gam, khối lượng còn lại là 0,109 gam);

- 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu xanh, trong bao thuốc có 01 gói bên ngoài được cuốn băng dính đen, bên trong có gói giấy màu xanh chứa ma túy loại Heroine, khối lượng ban đầu 0,277 gam (PC 09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu để giám định 0,035 gam, khối lượng còn lại là 0,242 gam);

- 01 ví da màu vàng nhạt;

- 01 ví da màu nâu đen;

- 04 coóng thủy tinh đều dính ma túy loại Methamphetamine;

- 02 sim điện thoại đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng đã qua sử dụng

(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 12/10/2020)

5. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ