vanban.org

Bản án 195/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Ngân hàng N.

a/ Buộc bà Trương Thị Xuân T có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng N 18.144.612đ (Mười tám triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm mười hai đồng) trong đó: Nợ gốc: 12.506.991đ; Nợ lãi: 1.881.232đ; Phí không thanh toán đúng hạn: 3.688.067đ; Phí vượt hạn mức: 68.322đ theo Yêu cầu phát hành thẻ tín d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng N yêu cầu bà Trương Thị Xuân T phải trả tiền còn thiếu theo Hợp đồng đã ký"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2019/DS-ST
Ngày: 30/5/2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bảo Lâm

2. Ông Nguyễn Xuân Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2019 về ‘‘Tranh chấp hợp đồng vay tài sản’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2019/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N

Hội sở: 198 đường Q, phường L, quận K, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân Th – sinh năm 1969; Chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phát H – sinh năm 1976 (Theo Giấy ủy quyền số: 67/2018/UQ-HCM.THE ngày 14/11/2018). (Có mặt)

Địa chỉ: Một phần tầng hầm B1, một phần tầng trệt, trọn tầng lửng, tầng lầu 01,02,03,04,05,07 và 08 Tòa nhà VBB – Số 5 Công trường M, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Bà Trương Thị Xuân T – sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ : 87/84/15 đường S, Phường A, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 14/11/2018 của Nguyên đơn - Ngân hàng N (sau đây gọi là Ngân hàng) cùng trình bày của ông Trần Phát H là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thì: Ngày 11/11/2016 Ngân hàng – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh phát hành thẻ Visa số: V0070001095, loại thẻ cá nhân tín chấp cho bà Trương Thị Xuân T (sau đây gọi là Bị đơn) với tổng hạn mức là 15.000.000đ. Bị đơn đã sử dụng thẻ để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân nhưng sau đó không thanh toán cho Ngân hàng, Ngân hàng đã thông báo thanh toán, liên hệ nhiều lần nhưng Bị đơn vẫn không thanh toán. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, nợ lãi và phí phát sinh tạm tính đến ngày 14/11/2018 là 13.617.190đ, từ ngày 15/11/2018 cho đến khi thanh toán dứt nợ Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho Bị đơn để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng Bị đơn đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.

Tại phiên tòa, Bị đơn vắng mặt.

Ông Trần Phát H là Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày: Sau khi được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng, Bị đơn đã sử dụng thẻ để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân và thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng, từ tháng 9/2018 cho đến nay Bị đơn không thanh toán cho Ngân hàng theo quy định. Tính đến ngày 30/5/2019, Bị đơn còn nợ Ngân hàng 18.144.612đ trong đó: Nợ gốc: 12.506.991đ; Nợ lãi: 1.881.232đ; Phí không thanh toán đúng hạn: 3.688.067đ; Phí vượt hạn mức: 68.322đ. Nay Ngân hàng yêu cầu Bị đơn phải trả ngay số nợ trên, từ ngày 31/5/2019 cho đến khi thanh toán dứt nợ Ngân hàng yêu cầu Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã làm đúng quy định của pháp luật, xét xử đúng hạn luật định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện ‘‘tranh chấp hợp đồng vay tài sản’’ với Bị đơn do Bị đơn có nơi cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Ngân hàng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng – ông Trần Phát H có mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc yêu cầu Bị đơn phải trả 18.144.612đ (Trong đó nợ gốc là: 12.506.991đ; Nợ lãi: 1.881.232đ; Phí không thanh toán đúng hạn: 3.688.067đ; Phí vượt hạn mức: 68.322đ). Hội đồng xét xử nhận định:

- Căn cứ Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng đề nghị là 15.000.000đ của Bị đơn ngày 8/11/2016; Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng thì ngày 8/11/2016 giữa Bị đơn và Ngân hàng đã giao kết hợp đồng vay tài sản dưới hình thức sử dụng dịch vụ thẻ.

- Ngày 11/11/2016 Ngân hàng có Bản thông tin về hạn mức tín dụng theo đó Ngân hàng cấp cho Bị đơn thẻ Amex Green và thẻ Visacarrd Emv Standard; Hiệu lực thẻ: 36 tháng; Hạn mức tín dụng: 15.000.000đ.

- Theo bảng chiết tính của Ngân hàng thì tính đến ngày 30/5/2019 số nợ còn lại của Bị đơn đối với Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế; Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế nêu trên là 18.144.612đ trong đó: Nợ gốc: 12.506.991đ; Nợ lãi: 1.881.232đ; Phí không thanh toán đúng hạn: 3.688.067đ; Phí vượt hạn mức: 68.322đ.

Quá trình giải quyết vụ án Bị đơn không có ý kiến gửi cho Tòa án và không đến Tòa án để giải quyết việc kiện của Ngân hàng đối với Bị đơn nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của ông Huy là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc Bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc, lãi và phí tính đến ngày 30/5/2019 là 18.144.612đ.

Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu Bị đơn phải trả tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 31/5/2019 cho đến khi trả hết nợ, Hội đồng xét xử nhận định: Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về thời hạn thanh toán: Tại phiên tòa Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ tháng 8/2018 đến nay Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên việc Ngân hàng yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc Bị đơn phải thanh toán nợ cho Ngân hàng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về địa điểm thi hành án: Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị đơn phải chịu 907.230đ án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại 340.430đ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 21; Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 227; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Ngân hàng N.

a/ Buộc bà Trương Thị Xuân T có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng N 18.144.612đ (Mười tám triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm mười hai đồng) trong đó: Nợ gốc: 12.506.991đ; Nợ lãi: 1.881.232đ; Phí không thanh toán đúng hạn: 3.688.067đ; Phí vượt hạn mức: 68.322đ theo Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế; Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 8/11/2016.

b/ Buộc bà Trương Thị Xuân T có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng N tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 31/5/2019 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế; Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 8/11/2016.

2/ Về án phí: Bà Trương Thị Xuân T phải chịu 907.230đ (Chín trăm linh bảy ngàn hai trăm ba mươi đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại Ngân hàng N 340.430đ (Ba trăm bốn mươi ngàn bốn trăm ba mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0037624 ngày 19/12/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4/ Về quyền kháng cáo: Ngân hàng N được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trương Thị Xuân T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

5/ Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Cỡ chữ