vanban.org

Bản án 194/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật hình sự và Mục I Phụ lục kèm; Nghị định số 184/2025/NĐ-CP Quy định phân định thẩm quyền kh…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2026/HS-ST
Ngày 25 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Anh Đông và ông Nguyễn Thành Vương.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hùng, Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân H - Trại tạm giam Công an tỉnh S:

- Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát: Ông Đỗ Tràng D.

- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Trọng Đ.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam Vân H: Ông Lò Văn H1, ông Cà Văn A.

Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân H - Trại tạm giam Công an tỉnh S xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 201/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 206/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Bùi Văn L; sinh ngày: 30/12/1987 tại xã M, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ; số căn cước công dân: 017087000778; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Bùi Thị S; có vợ là Lộc Thị M (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/3/2026, Bùi Văn L đón xe khách từ nhà đến xã V, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi xe đi đến ngã ba thuộc bản L, xã V, L xuống xe rồi đi bộ men theo đường dân sinh thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết, đi xe máy, không rõ biển kiểm soát một gói ma túy được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L đi vào bìa rừng lấy một ít hỗn hợp ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại Lợi gói lại như cũ, L cho vào miệng ngậm cất giấu rồi đi bộ ra đường Q để đón xe khách về nhà. Trên đường về L gặp tổ công tác Công an xã V, sợ bị phát hiện nên L đã nuốt gói ma túy vào bụng để cất giấu. Tổ công tác đã đưa L đến Bệnh viện Đ1 - Cơ sở T để tiến hành nội soi và gắp được gói ma túy trong dạ dày của L ra. Tổ công tác Công an xã V đã tiến hành niêm phong vật chứng và bắt người phạm tội quả tang đối với L theo quy định. Vật chứng thu giữ của Bùi Văn L: 01 gói bằng hai lớp nilon màu trắng bên trong đựng hỗn hợp màu trắng và hồng, nghi là H2 và M1.

Ngày 12/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành Test thử ma túy đối với Bùi Văn L, kết quả dương tính với chất ma túy. Xác minh Bùi Văn L không thuộc diện nào quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Ngày 12/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng hỗn hợp chất bột màu trắng và màu hồng nghi là ma túy thu giữ của Bùi Văn L được 0,39 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu L. Tại Kết luận giám định số: 534/KL-KTHS ngày 19/3/2026 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; loại Methamphetamine và H2 (heroin), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,39 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Cáo trạng số 63/CT-VKSSLA-KV ngày 03/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị can Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Văn L trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

+ Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng vỏ gói ban đầu (02 mảnh nilon màu trắng).

+ Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn L.

- Bị cáo Bùi Văn L nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã V, tỉnh Sơn La thu giữ vào ngày 12/3/2026 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã V, tỉnh Sơn La lập vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 12/3/2026; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Bùi Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 12/3/2026 bị cáo Bùi Văn L đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,39 gam Methamphetamine và Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Bùi Văn L tàng trữ hai chất ma túy, căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự và Mục I Phụ lục kèm theo Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự, thì tổng khối lượng của hai chất ma túy Methamphetamine và Heroine của Bùi Văn L cất giấu là 0,39 gam (dưới 05 gam). Do đó, hành vi của Bùi Văn L đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị UBND xã P, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy từ ngày 15/5/2023 đến ngày 15/5/2024 (mặc dù đây không phải là tiền sự), nhưng bản thân bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng.

Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng vỏ gói ban đầu (02 mảnh nilon màu trắng), xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Xét thấy bị cáo Bùi Văn L là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có yêu cầu xin miễn án phí, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn L theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn L, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Bùi Văn L phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/3/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng vỏ gói ban đầu (02 mảnh nilon màu trắng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 196/BBVC-THA ngày 10/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn L.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2026).

Cỡ chữ