- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoài L - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoài L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2026/HS-ST Ngày: 14/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tạ Thị Thà
Bà Bùi Thị Bích Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Đông - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2026/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Hoài L sinh năm 1981; Căn cước công dân số 001081029567; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 413 C, phường B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Lê H (Đã chết) và con bà: Phan Thị Thanh B (Sinh năm 1956); Gia đình có 03 con, bị cáo là con thứ ba; D chỉ bản số 81 lập ngày 14/01/2026 tại Phân trại tạm giam H – Công an Thành phố H; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 01 tiền sự; Không có tiền án
- Năm 2005, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (đã hết thời hiệu).
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/01/2026; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hoài L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 1999 đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc năm 2005. Năm 2023, L tái sử dụng ma túy Heroine. Tháng 6/2025, L tham gia điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (điều trị M) tại Trung tâm y tế quận H (N là Trung tâm y tế phường H) - Số C, ngõ I L, phường H, Thành phố Hà Nội theo Thông báo tiếp nhận điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 95 ngày 02/6/2025. Tuy nhiên, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/12/2025, L đi bộ đến khu vực cổng Bệnh viện T, phường B, Thành phố Hà Nội tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L mang về khu vực cầu thang tầng 3 nhà C2 Tập thể Q, phường B, Thành phố Hà Nội sử dụng bằng hình thức đốt ma túy trên giấy bạc rồi hít vào cơ thể. Đến ngày 06/01/2026, L đi đến Trung tâm điều trị M tại ngõ I L, phường H, Thành phố Hà Nội để lấy thuốc thì bị Cơ quan điều tra yêu cầu xét nghiệm chất ma túy. Qua xét nghiệm nước tiểu cho kết quả dương tính với chất ma túy MOP (Heroine). Lời khai bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cơ quan CSĐT – C đã trưng cầu giám định ma túy trong nước tiểu đối với Trần Hoài L. Tại Kết luận giám định độc chất số 30 ngày 07/01/2026 của Trung tâm P – Sở Y kết luận: Mẫu nước tiểu của Trần Hoài L có tìm thấy chất ma túy là M1.
Đối với đối tượng bán ma túy cho L, do L không biết thông tin lai lịch, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKSKV3 ngày 18 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội truy tố Trần Hoài Linh về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Hoài L khai nhận đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục các bị cáo. Hơn nữa, bị cáo Trần Hoài L nhân thân đã từng bị đi cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần này được coi là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt Trần Hoài L mức hình phạt từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Trần Hoài L là đối tượng đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (Theo Thông báo tiếp nhận điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 95 ngày 02/6/2025 của Trung tâm y tế phường H). Tuy nhiên, ngày 21/12/2025, tại khu vực cầu thang tầng 3 nhà C Tập thể Q, phường B, Thành phố Hà Nội thì Trần Hoài L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine bằng hình thức hít.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội và có khả năng tự điều khiển hành vi của mình. Vì vậy, khi thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, bị cáo là đối tượng đang điều trị nghiện các chất dạng ma túy bằng thuốc thay thế theo Thông báo tiếp nhận của Trạm y tế phường H, Thành phố Hà Nội. Do đó, bị cáo Trần Hoài L đáp ứng được tất cả các dấu hiệu cơ bản thỏa mãn về yếu tố chủ thể trong cấu thành tội phạm của tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm khách thể là chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước ở các khâu của quá trình quản lý, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, nhận thức được tác hại nguy hiểm của ma túy và có khả năng tự điều khiển hành vi của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn cai nghiện các chất dạng ma túy bằng thuốc thay thế. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Hoài L thực hiện tội phạm với hành vi khách quan là hành vi bị cáo đưa chất ma túy (cụ thể là ma túy loại Heroine) vào cơ thể bằng hình thức hít. Hành vi đưa các chất ma túy vào cơ thể của bị cáo Trần Hoài L được coi là trái pháp luật do đã vi phạm các quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy, đặc biệt khi bị cáo đang điều trị nghiện các chất dạng ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Từ những căn cứ trên về yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể, yếu tố mặt chủ quan, yếu tố mặt khách quan, hành vi của bị cáo Trần Hoài L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Trần Hoài L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Trần Hoài L nhân thân có 01 tiền sự do bị đưa đi cai nghiện bắt buộc năm 2005. Tuy nhiên, bị cáo cũng được coi là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án. Do đó, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hơn nữa, xét thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hoài L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Trần Hoài L là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Hoài L, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý là đúng.
Về án phí: Bị cáo Trần Hoài L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Hoài L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Căn cứ các Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoài L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt:
Bị cáo Trần Hoài L 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2026.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Hoài L.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Hoài L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Hoài L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND, VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND khu vực 3 – Hà Nội; - Cơ quan CSĐT – Công an TP Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Công an TP Hà Nội; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |