- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N - K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thảo N đối với ông Trần Quốc K. Bà Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với ông Trần Quốc K. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thảo N đối với ông Trần Quốc K chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2026/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2026 V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
2. Ông Võ Văn Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Nguyễn Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An– Kiểm sát viên
Vào ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 436/2026/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2026/QĐXXST ngày 29 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 362/2026/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1993; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Số B, ấp P, xã G, tỉnh Vĩnh Long. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1989; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Số D, ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn trình bày:
Bà N và ông Trần Quốc K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2021. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung và đã sống ly thân. Bà N đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và đã sống ly thân. Do không còn tình cảm với ông K nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông Trần Quốc K, bà N không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thảo N yêu cầu nuôi 01 con chung tên Trần Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2021, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Quốc K vắng mặt, không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thảo N đối với ông Trần Quốc K. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thảo N yêu cầu nuôi 01 con chung tên Trần Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2021, ghi nhận bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung; nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo N có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Trần Quốc K vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông K là phù hợp với Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Quốc K có nơi cư trú tại ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long theo quy định tại Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thảo N và ông Trần Quốc K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2021 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K. Tại biên bản xác minh ngày 17/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, bà Nguyễn Thị Kim C (mẹ ruột của bà N và ông K) trình bày: Quá trình chung sống bà N và ông K không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, hiện tại đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà N cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Ông Trần Quốc K vắng mặt trong các phiên hòa giải và tại phiên tòa không có ý kiến trình bày. Điều này cho thấy bà N và ông K đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này, không thể hiện mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, việc hàn gắn tình cảm cho bà N và ông K không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà N và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông K là phù hợp quy định pháp luật. Bà N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận. Ông K vắng mặt không có lời trình bày về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên không xem xét.
Về con chung: Bà N và ông K có 01 con chung tên Trần Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2021, đang sống chung với bà N. Bà Nguyễn Thị Thảo N yêu cầu được nuôi con chung. Xét việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt về điều kiện vật chất và tinh thần, sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Bản thân bà Nguyễn Thị Thảo N có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi con. Để đảm bảo việc phát triển bình thường về vật chất, tâm lý và tinh thần cũng như ổn định về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cho con chung nên giao Trần Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2021 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Nguyễn Thị Thảo N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà Nguyên khai không có, ông K vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Về nợ chung: Bà Nguyên khai không có, ông K vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thảo N đối với ông Trần Quốc K. Bà Nguyễn Thị Thảo N được ly hôn với ông Trần Quốc K. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thảo N đối với ông Trần Quốc K chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thảo N, không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn. Ông K vắng mặt không có lời trình bày về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên không xem xét.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thảo N được nuôi 01 con chung tên Trần Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2021. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thảo N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Trần Quốc K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thảo N khai không có, ông Trần Quốc K vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thảo N khai không có, ông Trần Quốc K vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thảo N phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0009031 ngày 13/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị Thảo N đã nộp xong án phí.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long - VKSND Khu vực 5-Vĩnh Long; - UBND xã Giao Long; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Minh Hiền |