vanban.org

Bản án 194/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về căn cứ điều luật và xử phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28-11-2024. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Về căn cứ điều luật và xử phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2025/HS-ST
Ngày 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Minh Khiết và bà Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Khắc Trường Vũ An-Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 217/2025/TLST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2025/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1999, tại tỉnh B. Nơi thường trú: nhà số D02/36C, Khóm 3, Phường A, thành phố B, tỉnh B; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh T và bà Lý Thị Ngọc H; chưa có vợ con; T án, T sự: không có; bị bắt tạm giữ từ ngày 28-11-2024 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường An Lạc A, quận Bình Tân lập lúc 21 giờ ngày 28-11-2024) và tạm giam ngày 05-12-2024 cho đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 28/11/2024, Tổ công tác 363-Công an quận Bình Tân tuần tra đến trước nhà số 8, đường Khiếu Năng Tĩnh, phường An Lạc A, quận Bình Tân thì nhìn thấy anh Nguyễn Hoàng N đang điều khiển xe môtô biển số 50Y1-308.03 chở Nguyễn Thanh T chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu cho xe dừng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc là 01 gói nylon chứa tinh thể và khi đó, T cho biết là mua túy của riêng T vừa mới mua về để sử dụng nên Tổ công tác đưa tất cả đến phường An Lạc A để xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T đã khai: do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ cùng ngày, T liên lạc với người tên H1 (không rõ lai lịch) qua tài khoản Zalo có tên “Thoi Hoang Hai” đặt mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau đó, T nhờ anh Nguyễn Hoàng N là bạn cùng dãy trọ dùng xe chở đi công việc dùm thì anh N đồng ý. Khi gần đến khu vực chân cầu Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh thì T kêu anh N chờ chút rồi đi bộ lại gặp tên H1 nhận gói ma túy đã đặt mua theo hẹn trước đó. Sau khi trả T mua ma túy cho tên H1 xong, T cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi quay lại cho anh N chở về, nhưng trên đường về thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Riêng anh N khai: do T ở chung dãy nhà trọ với anh N nên quen biết nhau và đến khi T nhờ anh chở đi công việc thì anh N mới đồng ý chở T đi nên anh N không biết và cũng không liên quan về số ma túy của T. Như vậy, lời khai của anh N hoàn toàn phù hợp với lời khai của T, vật chứng đã thu giữ cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên anh N không bị xử lý. Riêng T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cất giữ gói nylon chứa tinh thể đã nêu trên và qua giám định “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5622g, loại Methamphetamine” nhằm mục đích để sử dụng.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận: do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã liên lạc với tên H1 (không rõ lai lịch) đặt mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân trước rồi sau đó, bị cáo mới nhờ anh Nguyễn Hoàng N là bạn cùng dãy trọ dùng xe chở đi công việc dùm thì anh N đồng ý. Đồng thời, khi gần đến khu vực chân cầu Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh thì T theo hẹn với tên H1, bị cáo kêu anh N chờ chút rồi đi bộ lại gặp tên H1 nhận gói ma túy đã đặt mua. Sau khi trả T mua ma túy cho tên H1 xong, bị cáo cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi quay lại cho anh N chở về nên anh N hoàn toàn không biết và cũng không liên quan gì về số ma túy của bị cáo, nhưng khi trên đường về thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định ma túy và việc giải quyết vật chứng.

Tại Cáo trạng số: 195/CT-VKSQ.BT, ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5622g, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng, đề nghị: tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo; tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 28/11/2024, tại trước nhà số 8, đường Khiếu Năng Tĩnh, phường An Lạc A, quận Bình Tân. Bị cáo đã có hành vi cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 14280/KL KTHS, ngày 06/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hồ Chí Minh thì, “01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh T, Nguyễn Võ Thanh D (Điều tra viên), Phan Xuân T (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường An Lạc A, quận Bình Tân bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể”, đã giám định “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5622g, loại Methamphetamine”. Do đó, bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định khối lượng ma túy…nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với anh Nguyễn Hoàng N, không biết và cũng không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên anh N không bị xử lý gì là có căn cứ. Còn tên H1 bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.

Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những góp phần làm lan tràn nạn nghiện ngập trong đời sống cộng đồng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm sao cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt T từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt T. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: bị cáo không làm nghề tự do và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt T đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen; số Imei 1: 865966049113539; số Imei 2: 865966049113521; màn hình điện thoại bị bể và trầy xước nhiều (đã qua sử dụng) của bị cáo, do có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Còn đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định; bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thanh T, Phan Xuân T (người chứng kiến), Nguyễn Võ Thanh D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường An Lạc A. quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28-11-2024.

2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen; số Imei 1: 865966049113539; số Imei 2: 865966049113521; màn hình điện thoại bị bể và trầy xước nhiều (đã qua sử dụng).

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định; bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thanh T, Phan Xuân T (người chứng kiến), Nguyễn Võ Thanh D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường An Lạc A. quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK25/285TV, ngày 08/5/2025)

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ