- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Danh Liền"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu toàn bộ khởi kiện của Ngân hàng C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 -AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2025/DS-ST. Ngày: 29/9/2025. V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Danh Sà Khol.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2025/TLST-DS, ngày 24 tháng 06 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 09 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng C (NHCSXH); Địa chỉ: số A phố L, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng T1, chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng C - theo văn bản ủy quyền số 32/QĐ-PGĐ ngày 25/4/2022; Địa chỉ: số A ấp Đ, xã H, tỉnh An Giang (có mặt).
2/ Bị đơn: Ông Danh L, sinh năm 1958; Địa chỉ: ấp L, xã H, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị K, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp L, xã H, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Hoàng T1 trình bày:
Ngày 20/06/2021, hộ ông Danh L, bà Lý Thị K được Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam/Phòng giao dịch NHCSXH huyện C xét cho vay theo chương trình: Hộ nghèo với số tiền là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), lãi suất vay: 6,6%/năm, mục đích vay vốn: Làm ruộng, cải tạo đất.
Ngày 20/07/2024, hộ ông Danh L, bà Lý Thị K được Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam/Phòng giao dịch NHCSXH huyện C xét cho vay theo chương trình: Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), lãi suất vay: 9,0%/năm, mục đích vay vốn: Xây nhà vệ sinh, khoan cây nước và mua bồn chứa nước.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông Danh L và bà Lý Thị K có trả được số tiền 5.200.000đồng của 02 khoản vay. Rồi sau đó không trả nữa cho đến nay. Mặc dù được cán bộ Ngân hàng cùng chính quyền địa phương thông báo và làm việc với ông L và bà K nhiều lần về việc đến hạn trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, ông L và bà K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Tính đến ngày 24/3/2025 tổng số tiền gốc, lãi mà ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng là 34.800.000đồng (Trong đó, gốc: 34.800.000đồng, lãi: 0 đồng).
Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/3/2025 là 34.800.000đồng và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay mà hai bên đã ký kết.
Tại phiên tòa, ông Trần Hoàng T1 là người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng yêu cầu ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng C số tiền còn nợ tính đến ngày 24/3/2025 là 34.800.000đồng và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn ông Danh L, bà Lý Thị K: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Danh L và bà Lý Thị K đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Danh L và bà Lý Thị K đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định vụ án này như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, Ngân hàng C yêu cầu ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ. Xét thấy đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản; bị đơn ông Danh L, bà Lý Thị K có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang cũ (nay là ấp L, xã H, tỉnh An Giang) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân”.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Danh L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị K đã được Toà án triệu hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Qua lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án HĐXX có cơ sở xác định như sau:
Ngày 20/06/2021, hộ ông Danh L và bà Lý Thị K được Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam/Phòng giao dịch NHCSXH huyện C xét cho vay theo chương trình: Hộ nghèo với số tiền là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), lãi suất vay: 6,6%/năm, mục đích vay vốn: Làm ruộng, cải tạo đất.
Ngày 20/07/2024, hộ ông Danh L và bà Lý Thị K được Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam/Phòng giao dịch NHCSXH huyện C xét tiếp, cho vay theo chương trình: Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), lãi suất vay: 9,0%/năm, mục đích vay vốn: Xây nhà vệ sinh, khoan cây nước và mua bồn chứa nước.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông L và bà K đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi theo định kỳ cho Ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng đã gia hạn khoản vay trên nhiều lần nhưng khi đến hạn thanh toán thì ông L và bà K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, do đó tính đến thời điểm hiện nay món vay này đã quá hạn thanh toán. Vì vậy, Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông ông L và bà K phải trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng C.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, HĐXX thấy rằng yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ; phía Ngân hàng có cung cấp cho Tòa án sổ vay vốn và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đề ngày 09/6/2021 và ngày 10/7/2024 có chữ viết họ tên và ký tên của ông L bên vay, đồng thời tại giấy uỷ quyền ngày 09/6/2021 các thành viên trong hộ gồm bà Lý Thị K đã ký uỷ quyền cho ông Danh L đứng ra ký kết với Ngân hàng để vay vốn được sự xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L Các tài liệu này đã được cơ quan có thẩm xác nhận nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều này cho thấy vợ chồng ông L và bà K có vay tiền của Ngân hàng C theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn số tiền gốc 20.000.000 đồng và hộ nghèo số tiền gốc 20.000.000 đồng hiện nay theo phía Ngân hàng cho rằng ông L và bà K chưa thanh toán số tiền nợ còn lại của 02 khoản vay là 34.800.000đồng; Thực hiện hợp đồng trên phía Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân vốn vay cho ông Danh L và bà Lý Thị K đầy đủ. Tuy nhiên, bên vay ông Danh L và bà Lý Thị K lại không thực hiên đúng nghĩa vụ trả gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn.
Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 HĐXX buộc ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng C số tiền tính đến ngày 24/3/2025 là 34.800.000đồng và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Về án phí DSST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì ông Danh L và bà Lý Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho Ngân hàng. Tuy nhiên, ông Danh L và bà Lý Thị K là hộ cận nghèo được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Vì vậy, ông Danh L, bà Lý Thị K thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
Ngân hàng C khởi kiện thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu toàn bộ khởi kiện của Ngân hàng C.
Buộc ông Danh L và bà Lý Thị K phải trả cho Ngân hàng C với tổng số tiền là 34.800.000đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
2/ Về án phí DSST: Ông Danh L, bà Lý Thị K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3/ Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/09/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.