vanban.org

Bản án 194/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 10/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian của án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức -Đành bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhân Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực

Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế (số 60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/TLST-HS ngày 25/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2023/QĐXXST-HS ngày 29/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1977, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Đường V, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: Không biết chữ, con ông: Nguyễn C3 (đã chết); con bà Nguyễn Thị T; gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ: Ngô Thị L, con: có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2011;

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình tại phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; không được đi học, ở nhà phụ giúp gia đình, làm thuê cho đến ngày phạm tội.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01 tiền sự (ngày 23/02/2022 bị Công an phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, theo quyết định số 0002578/QĐ-XPHC, quyển số 79, ngày 23/02/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

+ Anh Văn Viết Q, sinh năm 1987, nơi cư trú: Đường T, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)

+ Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1999, nơi cư trú: Đường V, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1978, nơi cư trú: Đường N, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. (vắng mặt)

+ Ông Nguyễn C1, sinh năm 1978, nơi cư trú: Đường B, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)

+ Ông Nguyễn S, sinh năm 1978, nơi cư trú: Đường B, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)

+ Anh Mai Văn Quốc H, sinh năm 1978, nơi cư trú: Đường Đ, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)

+ Ông Hồ Văn P, sinh năm 1971, nơi cư trú: Đường B, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 15/12/2022, tại quán cà phê do Hồ Văn P làm chủ, tại địa chỉ: Đường B, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, các đối tượng gồm Nguyễn Đ, Văn Viết Q, Trần Văn Q1, Nguyễn Đình C có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm”, được cả nhóm thống nhất cụ thể như sau:

Cả nhóm mua 01 bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 lá từ Hồ Văn P (chủ quán) và lập nhóm 4 người cùng chơi. Bắt đầu chia cho 04 người chơi mỗi người sẽ được chia 09 lá bài, riêng người được chia bài sẽ nhận thêm 01 lá bài thành 10 lá bài, những lá bài còn thừa sẽ được đặt ở giữa bàn. Người đánh đầu tiên sẽ vứt đi một lá bài được xem là rác có trên tay mình, người chơi kể tiếp nếu có trên tay từ 02 hoặc nhiều hơn lá bài cùng tập hợp thì có thể ăn để tạo thành “Phỏm”. Nếu người kế tiếp lựa chọn không ăn lá bài từ người chơi trước thì người đó sẽ bốc 01 lá bài từ những lá bài để ở giữa bàn. Sau đó, người chơi lại tiếp tục vứt đi một lá bài có trên tay của mình để người kế tiếp ăn hoặc bỏ qua. Lượt chơi cứ tiếp tục như vậy cho đến lúc có một người chơi ù. Một người chơi được xem là ù, khi không sở hữu bất cứ lá bài rác nào, các lá bài đều được sắp xếp để tạo thành “Phỏm”. Nếu không có ai trong 4 người chơi ù thì sau 4 lượt đánh ván bài sẽ kết thúc. Trước khi đánh ra lá bài cuối cùng người chơi sẽ phải cho những người chơi khác thấy các “Phỏm” của mình tập hợp được để tính điểm. Sau đó, những người chơi so sánh điểm những lá bài rác còn trên tay để xác định thắng thua, người nào thấp điểm nhất sẽ thắng. Quá trình đánh bạc cả nhóm thống nhất không thu tiền xâu. Tuy nhiên, nếu ai ù thì sẽ bỏ ra 10.000 đồng để trả tiền nước uống, tiền bài cho chủ quán. Đến 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tiếp tục đánh bạc thì bị Công an phường Kim Long, thành phố Huế tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Đ, Văn Viết Q, Trần Văn Q1, Nguyễn Đình C về hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền.

Thu giữ các vật chứng do các đối tượng trên dùng vào việc đánh bạc gồm: 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ; số tiền tại chiếu bạc các đối tượng dùng đánh bạc là: 1.240.000 đồng. Trong đó: Thu giữ số tiền giữa sòng là 50.000 đồng. Thu giữ trên người của Nguyễn Đ số tiền 50.000 đồng dùng để đánh bạc; thu giữ trên người của Văn Viết Q số tiền 1.300.000 đồng, trong đó 100.000 đồng là tiền Q dùng để đánh bạc; thu giữ trên người của Trần Văn Q1 540.000 đồng dùng để đánh bạc; thu giữ trên người của Nguyễn Đình C 500.000 đồng dùng để đánh bạc.

Ngoài sòng bạc nêu trên tại thời điểm kiểm tra, Công an phường Kim Long kiểm tra phát hiện 01 sòng bạc chơi “cờ cá ngựa” thắng thua bằng tiền gồm Nguyễn C1, Nguyễn S, Mai Văn Quốc H hiện giữ số tiền dùng để đánh bạc là 695.000 đồng. Kiểm tra, thu giữ trên người của Nguyễn C1 số tiền 200.000 đồng, thu giữ trên người của Mai Văn Quốc H số tiền 560.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ:

Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 3.895.000 đồng

- 01 bộ bài Túlơkhơ, đã qua sử dụng.

- 01 bộ cờ cá ngựa, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định số tiền 200.000 đồng thu giữ từ Nguyễn C1; số tiền 560.000 đồng thu giữ từ Mai Văn Quốc H và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ từ Văn Viết Q không sử dụng để đánh bạc. Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại số tiền 200.000 đồng cho Nguyễn C1; trả lại số tiền 560.000 cho Mai Văn Quốc H, trả lại số tiền 1.200.000 đồng cho Văn Viết Q.

Đối với số tiền 1.935.000 đồng, 01 bộ bài Túlơkhơ và 01 bộ cờ cá ngựa, đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSTPH ngày 23/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.240.000 đồng, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Túlơkhơ 01 bộ cờ cá ngựa, đã qua sử dụng và chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế số tiền 695.000 đồng để xử lý theo thẩm quyền, buộc bị cáo Đức chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa. Do đó có cơ sở để kết luận:

. Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 15/12/2022, tại quán cà phê do Hồ Văn P làm chủ, địa chỉ số Đường B, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Công an phường K, thành phố H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đ, Văn Viết Q, Trần Văn Q1, Nguyễn Đình C đang có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền với số tiền dùng để đánh bạc là 1.240.000 đồng. Do vào ngày 23/02/2022, Nguyễn Đ đã bị Công an phường Kim Long, thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép số tiền 1.500.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Đ về tội Đánh bạc theo quy định khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi dẫn đến việc phạm tội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến vấn đề kinh tế của nhiều gia đình, nên cần phải xử lý thích đáng mới đảm bảo tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Đ hành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp cũng đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo có nghề nghiệp là làm thuê, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.240.000 đồng thu tại chiếu bạc.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài Tú lơ khơ đã qua sử dụng.

Đối với số tiền 695.000 đồng thu tại sòng bạc chơi “cờ cá ngựa” thắng thua bằng tiền gồm có Nguyễn C1, Nguyễn S, Mai Văn Quốc H, do hành vi của Cư, Sáu và Huy không đủ yếu tố cầu thành tội đánh bạc nên Nguyễn C1, Nguyễn S và Mai Văn Quốc H bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này và số tiền này không liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo Đức nên chuyển lại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế số tiền 695.000 đồng và 01 bộ cờ cá ngựa, đã qua sử dụng để xử lý theo thẩm quyền.

(Các vật chứng trên được miêu tả cụ thể Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế và Giấy nộp tiền ngày 24/5/2023 vào tài khoản số 394901054597 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế mở tại Kho bạc nhà nước Thừa Thiên Huế)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đ phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian của án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Đ cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo Đức chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Kim Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung, do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015,

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.240.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ đã qua sử dụng.

Chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế số tiền 695.000 đồng và 01 bộ cờ cá ngựa đã qua sử dụng để xử lý theo thẩm quyền.

(Các vật chứng trên được miêu tả cụ thể Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế và Giấy nộp tiền ngày 24/5/2023 vào tài khoản số 394901054597 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế mở tại Kho bạc nhà nước Thừa Thiên Huế)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đ phải chịu 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bản án này là sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ