vanban.org

Bản án 194/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Minh S được ly hôn bà Phan Thị Ngọc H. Về con chung: Giao con chung là trẻ Võ Thị Thùy Trang, sinh ngày 18/02/2006 cho ông Võ Minh S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "SANG - HẬU"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật trẻ em; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 194/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-4-2023
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lựu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Kim Tuyến.

2. Bà Trần Thị Bích Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 567/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2023/QĐST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Minh S, sinh năm 1978 – Có mặt

Bị đơn: Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1983 – Vắng mặt

Cùng địa chỉ: X, Ấp 1, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Võ Minh S là nguyên đơn trình bày:

Ông Võ Minh S và bà Phan Thị Ngọc H tự nguyện kết hôn năm 2004. Hai bên có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/01/2004.

Sau khi cưới ông S và bà H sống tại địa chỉ 39A, Ấp 1, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng kể từ đầu năm 2021 đến nay thì phát sinh mâu thuẫn do bà H thiếu trách nhiệm với chồng con, không yêu thương, quan tâm chồng con, vay nợ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, căng thẳng với nhau. Bà H còn thường xuyên bỏ nhà đi, để mặc ông S một mình chăm sóc các con.

Nay, ông S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn bà H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông S và bà H có 02 con chung là Võ Thị Minh Thi, sinh ngày 10/12/2004 (Đã trưởng thành) và Võ Thị Thùy Trang, sinh ngày 18/02/2006. Hiện nay con chung đang do ông S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Võ Thị Thùy Trang.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông S xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để bà Phan Thị Ngọc H là bị đơn đến Tòa án làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bà Phan Thị Ngọc H vẫn không có mặt mà không có lý do chính đáng và không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/01/2004 thì ông Võ Minh S và bà Phan Thị Ngọc H có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét đơn khởi kiện của ông S yêu cầu ly hôn với bà H là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị Ngọc H là bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để bà H là bị đơn đến Tòa án làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về các yêu cầu của đương sự:

Theo lời trình bày của nguyên đơn thì kể từ năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bà H thiếu trách nhiệm với chồng con, không yêu thương, quan tâm chồng con, vay nợ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, căng thẳng với nhau. Bà H còn thường xuyên bỏ nhà đi, để mặc ông S một mình chăm sóc các con.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Theo kết quả xác minh của Hội liên hiệp phụ nữ xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè thì “Trong quá trình sống, ông Võ Minh S và bà Phan Thị Ngọc H cư trú tại 39A, Ấp 1, xã Phước Lộc không có mâu thuẫn gì phải giải quyết ở địa phương”.

Theo kết quả xác minh của Công an xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè thì “Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1983 có đăng ký thường trú tại 39A, Ấp 1, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, bà H không thực tế cứ trú tại địa chỉ trên, vắng mặt tại địa phương từ tháng 11/2021 đến nay, không rõ đi đâu, làm gì”.

Hội đồng xét xử xét:

Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Võ Minh S và bà Phan Thị Ngọc H đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có duy trì cuộc hôn nhân này thì cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hơn nữa, bà H mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc chứng tỏ bà H cũng không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Võ Minh S ly hôn bà Phan Thị Ngọc H là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con.

Hội đồng xét xử xét:

Ông Võ Minh S và bà Phan Thị Ngọc H có 02 con chung là Võ Thị Minh Thi, sinh ngày 10/12/2004 (Đã trưởng thành) và Võ Thị Thùy Trang, sinh ngày 18/02/2006. Hiện nay con chung đang do ông S trực tiếp nuôi dưỡng. Tại Bản ghi nhận nguyện vọng, trẻ Võ Thị Thùy Trang cũng muốn được ở với ba. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của trẻ em, Hội đồng xét xử giao con chung là trẻ Võ Thị Thùy Trang cho ông S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông S xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Về nợ chung: Ông S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng ông S phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông S đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014383 ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật trẻ em;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Minh S được ly hôn bà Phan Thị Ngọc H.

- Về con chung: Giao con chung là trẻ Võ Thị Thùy Trang, sinh ngày 18/02/2006 cho ông Võ Minh S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng.

Ông Võ Minh S có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi bà Phan Thị Ngọc H đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Ông S xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

- Về nợ chung: Ông S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông S nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông S đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0014383 ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Ông S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ