vanban.org

Bản án 194/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 194/2022/HS-ST
Ngày: 15 – 7 – 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

Bà Lê Thị Thiện;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Quang V, sinh năm 1978 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Số nhà 23S, đường số 10, tổ 20, khu phố 3, phường L, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ: Nguyễn Hồ Thúy Tr và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2021 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Huỳnh Vũ L, sinh năm 2001 (đã chết); nơi cư trú: Ấp X, xã Th, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Vũ L: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp X, xã Th, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (cha mẹ ruột), có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Thanh Tr, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số nhà 23S, đường số 10, tổ 20, khu phố 3, phường L, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chưng: Ông Lê Văn Ph, sinh năm 1995, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Quang V có giấy phép lái xe hạng B2, số 560154064034 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Kháng Hòa cấp ngày 04/01/2016, có giá trị đến ngày 04/01/2026, bị cáo An điều khiển xe ô tô biển số 51G - 331.45 đã được kiểm định ngày 10/3/2021, có giá trị đến ngày 09/9/2022.

Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 31/10/2021, Phạm Quang V điều khiển xe ô tô biển số 51G - 331.45 lưu thông trên đường D4 hướng từ đường An Phú 30 đi ra KCN VSIP. Khi đến ngã tư giao với đường D1 trong KDC Việt Sing thuộc khu phố 4, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, V không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe lưu thông trên đường D1 là đường ưu tiên dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 68M1 - 420.68 do bị hại Huỳnh Vũ L điều khiển, đang lưu thông trên đường D1 hướng từ phường An Phú đi phường Thuận Giao. Hậu quả: Bị hại Huỳnh Vũ L tử vong sau cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường D1 với đường D4 thuộc KDC Việt Sing, khu phố 4, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Đường D1 rộng 12m được trải nhựa thẳng, phẳng có gờ giảm tốc, vạch sơn kẻ dành cho người đi bộ; có biển cảnh báo nguy hiểm báo hiệu gờ giảm tốc và có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên. Đường D4 rộng 7,40m được trải nhựa phẳng, thẳng có biển báo hiệu giao nhau với đường ưu tiên. Lấy mép đường bên phải đường D4 hướng từ An Phú đi hướng KCN VSIP làm chuẩn.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

Số (1) Xe mô tô hai bánh biển số 68M1 – 420.68.

Số (2) Vết cày xe mô tô.

Số (3) Vết máu của nạn nhân.

Số (4) Xe ô tô con biển số 51G – 331.45.

Số (5) Cột điện số B/5B/36

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

Lấy cột điện số B/5B/36 nằm ở góc ngã tư lề đường bên phải đường D1 hướng từ đường D33 về hướng phường Thuận Giao làm điểm mốc.

Lấy mép đường bên phải đường D4 hướng từ An Phú đi hướng KCN VSIP làm chuẩn.

Mô tả số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

Sau tai nạn giao thông hiện trường để lại như sau:

Xe mô tô hai bánh biển số 68M1 – 420.68 ngã nghiêng bên phải nằm quay ngang trên đường D4 với đường D1; đầu xe quay về hướng đường D33. Trục bánh trước của xe mô tô cách mép đường bên phải của đường D4 là 3m; trục bánh sau của xe mô tô cách mép phải của đường D4 là 1,75m và cách cột mốc là 8,80m.

Xe mô tô hai bánh biển số 68M1 – 420.68 sau khi ngã để lại vết cày dài trên mặt đường là 12,40m; đầu vết cày cách mép đường bên phải của đường D1 hướng từ đường D33 về Thuận Giao là 5m và cách mép đường bên phải đường D4 hướng từ phường An Phú đi hướng KCN VSIP là 10m; cuối vết cày nằm ngay gác chân trước bên phải của xe mô tô.

Vết máu của nạn nhân để lại trên mặt đường có kích thước (1,30x0,80)m có tâm vết máu cách mép đường D4 bên phải là 1,40m và cách trục bánh sau xe mô tô là 1,80m.

Xe ô tô biển số 51G – 331.45 đỗ trên mặt đường D4, đầu xe quay về hướng KCN VSIP; trục bánh trước bên phải của xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,80m; trục bánh sau bên phải của xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,90m và cách trục bánh sau xe mô tô là 16,90m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

Dấu vết để lại trên xe mô tô hai bánh biển số 68M1 – 420.68: Kính chiếu hậu hai bên gãy; tay cầm bên trái cong xuống dưới; đồng hồ, mặt nạ bể vỡ; yên rách; đầu gác chân bên phải mài mòn; phanh chân mài mòn; gác baga phía sau bên phải mài mòn; mặt ngoài pô xe mài mòn; gác chân trước dính sơn màu đỏ.

Dấu vết để lại trên xe ô tô biển số 51G – 331.45: Cản sau bung rời, tróc sơn; đuôi xe bên trái thụng móp kích thước (80x60)cm

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 891/GĐPY ngày 05/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Các dấu hiệu chính:

Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài.

Dập rách hai phổi, rốn phổi.

Vỡ gan.

Khoang màng phổi và ổ bụng chứa 2500ml máu

Nguyên nhân chết của nạn nhân là do: Do đa chấn thương.

Bản kết luận giám định số 248/GĐCH-PC09 ngày 19/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 68M1-420.68 và xe ô tô con biển số 51G-331.45 là: Các dấu vết cong biến dạng ở tay lái bên trái, vỡ ốp nhựa đầu đèn chiếu sáng, bung vỡ bửng trái, trượt xước rách cạnh trái yên xe, ốp nhựa thân xe bên trái xe mô tô biển số 68M1-420.68, có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết hằn lún, gãy biến dạng và trượt xước bám dính chất màu đen ở mặt ngoài bánh xe bên trái trục sau, mặt trái và mặt dưới đuôi xe ô tô con biển số 51G-331.45, có chiều từ trái qua phải, từ trước về sau.

Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 68M1-420.68 và xe ô tô con biển số 51G-331.45 là: xe mô tô đang đổ ngã sang phải và trượt trên mặt đường thì va chạm vào mặt ngoài và mặt dưới bên trái đuôi xe ô tô con (như mục 1, phần V) theo chiều từ trái qua phải của xe ô tô con, tạo ra các dấu vết trên hai phương tiện.

Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 68M1 -420.68 và xe ô tô con biển số 51G-331.45 chiếu xuống mặt đường là khu vực phía sau đầu vết cày (ký hiệu số 2 trên sơ đồ hiện trường) theo chiều từ đường D33 về Thuận Giao (như trên sơ đồ hiện trường).

Bản Cáo trạng số 190/CT-VKS-TA ngày 12/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phạm Quang V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Quang V về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Phạm Quang V và áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Quang V mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

- Bị cáo Phạm Quang V trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định pháp y vế tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 31/10/2021, tại ngã tư giao nhau giữa đường D4 với đường D1 KDC Việt Sing thuộc khu phố 4, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Phạm Quang V điều khiển xe ô tô biển số 51G - 331.45 có giấy phép lái xe hạng B2, số 560154064034 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Kháng Hòa cấp ngày 04/01/2016, có giá trị đến ngày 04/01/2026, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường NA4 và đường D1 đã không nhường đường cho xe mô tô do bị hại Huỳnh Vũ L điều khiển đang lưu thông trên đường ưu tiên đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô hai bánh biển số 68M1 - 420.68 do bị hại Huỳnh Vũ L điều khiển làm bị hại Huỳnh Vũ L tử vong. Hành vi của bị cáo Phạm Quang V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Phạm Quang V về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Phạm Quang V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng. Bản thân bị cáo là người đã thành niên biết được hành vi điều khiển xe ô tô không nhường đường cho xe đang lưu thông trên đường ưu tiên khi qua ngã tư là vi phạm Luật giao thông đường bộ nhưng không chấp hành, do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo được xem xét áp dụng các Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo Phạm Quang V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo Phạm Quang V được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện và giao bị cáo về nơi cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Quang V mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm là phù hợp nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại xác định bị cáo Phạm Quang V đã bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Thanh Tr xác định đã nhận lại ô tô biển số 51G – 331.45, ông Phạm Thanh Trí không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 68M1 – 420.68, quá trình điều tra xác định là của ông Huỳnh Vũ L nên ngày 05/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho đại diện gia đình Huỳnh Vũ L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

- 01 (một) xe ô tô biển số 51G – 331.45 quá trình điều tra xác định là của ông Phạm Thanh Tr nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông Phạm Thanh Tr là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Phạm Quang V phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

+ Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

+ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

+ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,

+ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Quang V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/07/2022).

Giao bị cáo Phạm Quang V về Ủy ban nhân dân phường L, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Quang V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ