- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan M - Phan N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của bà M đối với ông N.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 30 - 9 - 2022. “V/v ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đông.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Ông Hồ Xuân Giao;
2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 585/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà M – Sinh năm 1966 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà X đường T, phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông N – Sinh năm 1957 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà X đường T, phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà M trình bày có nội dung như sau:
Tôi (M) và ông N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban Nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 14/3/2008.
Trong quá trình chung sống, tôi và ông N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chúng tôi bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, đời sống hôn nhân không hòa hợp. Hiện nay chúng tôi đã sống ly thân và không có biện pháp hàn gắn mâu thuẫn.
Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi xin ly hôn với ông N.
Về con chung: Tôi và ông N có hai con chung là cháu T – Sinh ngày 20/5/1999 và cháu T1 – Sinh ngày 02/12/2007.
Đối với cháu T đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên tự quyết định cuộc sống của mình, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu T1, tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T1 cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn ông N, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của bà M. Chấp nhận bà M được ly hôn với ông N. Chấp nhận giao con chung cháu T1 – Sinh ngày 02/12/2007 cho bà M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Đối với cháu T – Sinh ngày 20/5/1999 đã trưởng thàng (đủ 18 tuổi) nên không đặt ra xem xét giải quyết. Bà M không yêu cầu ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông N. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông N đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân phường A, thành phố B tỉnh Đắk Lắk vào ngày 14/3/2008 (Giấy chứng nhận kết hôn số 034, quyển số 01/2008). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống, bà M và ông N xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân theo bà M trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, đời sống hôn nhân không hòa hợp. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông N.
Kết quả xác minh tại địa phương cho biết: Bà M và ông N đăng ký kết hôn và chung sống tại địa chỉ: Số nhà X đường T, phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống tại địa phương, bà M và ông N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Tuy nhiên bà M và ông N không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông N đến Tòa án để làm việc nhưng ông N vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà M và ông N là không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của bà M xin ly hôn với ông N, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét về con chung: Bà M và ông N có hai con chung là cháu T – Sinh ngày 20/5/1999 và cháu T1 – Sinh ngày 02/12/2007.
Đối với cháu T đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) và tự lo được cho cuộc sống của mình, nên bà M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với cháu T1, bà M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 cho đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, vì vậy cần giao cháu T1 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành, là đảm bảo nguyện vọng, quyền lợi về mọi mặt, đảm bảo sự phát triển ổn định của con chưa thành niên, phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không yêu cầu ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm theo quy
̀ định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của bà M đối với ông N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà M được ly hôn với ông N.
Về con chung:
Đối với cháu T - Sinh ngày 20/5/1999 đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), nên bà M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Giao con chung cháu T1 – Sinh ngày 02/12/2007 cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Ông N, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không yêu cầu ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đinh sơ
̀ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0019845 ngày 08 tháng 7 năm 2022 (do ông V nộp thay).
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Phòng NVKT&THA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lăk; - VKSND TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - UBND phường A, TP.BMT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Thị Đông |