vanban.org

Bản án 194/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà P đã nộp theo biên lai số 0000786 ngày 18/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, bà Phú đã nộp đủ án phí. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bà P, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? Xử thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 27 - 12 - 2022
V/v ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông
Nguyễn Văn V

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Mạnh Toàn.

2. Bà Dương Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm x, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm x, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà có mặt bà Phú; vắng mặt ông Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai của bà P thể hiện: Bà và ông Nguyễn Văn V kết hôn với nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn vào năm 1984 tại Uỷ ban nhân dân xã NP (nay là xã T). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã T cho đến nay. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, ông V là người gia trưởng, vũ phu hay đánh chửi vợ. Bà P đã rất nhiều lần bị thương tích, nhiều lần phải bỏ nhà đi nhưng nghĩ về hoàn cảnh gia đình, thương con nên lại quay về nhưng cuộc sống gia đình không được cải thiện. Sự việc lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Lần gần đây nhất là vào đầu tháng 10/2022, bà Phú bị ông V đánh phải bỏ lên nhà con trai ở và không dám về nhà. Bà P thấy sức khỏe đã yếu, không thể chịu đựng được nữa, nếu tiếp tục chung sống với ông V thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Nay bà đề nghị xin được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà P xác định bà và ông V có hai con chung là Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1986 và Nguyễn Văn H, sinh năm 1989, hiện các cháu đều đã lớn, đã lập gia đình.

Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay ông Nguyễn Văn V vắng mặt nhưng có lời khai xác định: Ông đồng ý với ý kiến của bà Phú về quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Hiện ông V vẫn muốn bà P trở về sinh sống để con cái đỡ mang tiếng nhưng nếu bà P nhất quyết đòi ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn với bà P. Về con chung, tài sản chung: Ông V cũng có ý kiến như bà P đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng các Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình: công nhận thuận tình ly hôn giữa bà P và ông V; đề nghị áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, nghị quyết 326/2016/UBTVQH/14, đề nghị Toà án tuyên án phí bà Phú phải nộp là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định của pháp luật. Đương sự không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà (có đề nghị xét xử vắng mặt) nên Toà án tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị P trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 1984 tại Uỷ ban nhân dân xã NP (nay là xã T), huyện N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà P, ông V có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, ông V vũ phu hay đánh chửi vợ. Ông V, bà P hiện đang sống ly thân. Như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà P và ông V đều nhất trí ly hôn nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà P, ông V là phù hợp.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn V có hai con chung là Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1986 và Nguyễn Văn H, sinh năm 1989, hiện đều đã lớn, đã lập gia đình riêng.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn V không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 6; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

1. Xử thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà P đã nộp theo biên lai số 0000786 ngày 18/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, bà Phú đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bà P, vắng mặt ông V. Bà Phú có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ