vanban.org

Bản án 194/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 194/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm;

2. Ông Đặng Văn Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước L - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 427/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hửu T, sinh năm 1996; địa chỉ: số nhà 445, tổ 17, ấp K, xã Kiến T, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm 1998; địa chỉ: số nhà 445, tổ 17, ấp K, xã Kiến T, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hửu T trình bày, do tự tìm hiểu, ông T và bà A kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 21/02/2018. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/7/2014. Hiện tại, con chung đang được ông T nuôi dưỡng. Trong thời gian chung sống hạnh phúc được 08 năm thì ông T, bà A xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm hay cự cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 01 năm nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà A; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/7/2014, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 21/02/2018 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ A và ông Nguyễn Hửu T (bản chính); giấy khai sinh số 129, ngày 09/4/2018 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Hữu L (bản sao).

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, ông T và bà A kết hôn, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà A hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung khoảng 01 năm nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu ly hôn với bà A. Ông T, bà A không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà A theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông T, giao cháu L cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do ông T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà A; ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/7/2022; bà A không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ông Nguyễn Hửu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ A. Đồng thời, bà A cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Hửu T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Mỹ A đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Ông Thuân và bà A tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà A là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Ông T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp và không còn sống chung khoảng 01 năm nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, ông T và bà A thường xuyên cãi vã và không còn sống chung khoảng 01 năm nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bà A nhưng bà A không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông T, bà A là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/7/2014. Xét thấy, con chung đang được ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu L phát triển tốt về thể chất, tinh thần, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu L, cháu L có nguyện vọng muốn sống với cha (ông T) sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử giao cháu L cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông T không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: ông T xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết. [2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n c các Đi u

Luật Hôn nhân và Gia đình n m 0 ; các Đi u

7 7 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 0 ; điểm a khoản

Đi u 7 Nghị quyết

0

BTV H ngày 0 tháng n m 0 của y ban thường vụ quốc hội quy định v m c thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hửu T. 1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Hửu T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ A. Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 21/02/2018 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ A và ông Nguyễn Hửu T không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Ông Nguyễn Hửu T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/7/2014. Bà Nguyễn Thị Mỹ A không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Ông Nguyễn Hửu T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Mỹ A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì L ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3. Về án phí sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hửu T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004564 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 04 tháng 5 năm 2022; Ông Nguyễn Hửu T đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị Mỹ A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm của ông Nguyễn Hửu T, bà Nguyễn Thị Mỹ A được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Đi u Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quy n thoả T thi hành án quy n yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Đi u 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ