- Tranh chấp gì? án hình sự — "R PHẠM TỘI TTTP MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2021/HS-ST. Ngày: 28/12/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Ngọc Trao.
- Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2021/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu R, sinh năm 1988. Tại Bà Rịa Vũng Tàu.
HKTT: Ấp B, xã P, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Rửa xe; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1958 và bà Huỳnh Thị Kim A, sinh năm 1963; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có hai anh em; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/8/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Nhơn Trạch.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Hữu R là đối tượng nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 14 giờ ngày 24/7/2021, R dùng điện thoại sim số 0933454329 gọi đến số điện thoại 094965992 cho một người tên Sơn X (không rõ nhân thân) hỏi mua ma túy với sồ tiền 100.000 đồng, Sơn X đồng ý và hẹn R 30 phút sau giao ma túy tại đầu đường hẻm bên hông nhà nghỉ Kim Dung thuộc ấp B, xã P, huyện Nhơn Trạch. Đến 14 giờ 30 phút, R đi bộ từ nhà thuộc ấp B, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch đến điểm hẹn để gặp Sơn X. Khi đến nơi, R đưa cho Sơn X số tiền 100.000 đồng và nhận 01 gói ma túy. Sau đó, R đem ma túy mua được về nhà cất giấu trên chiếc bàn đặt trong phòng ngủ của R nhằm mục đích để sử dụng. Đến 21 giờ cùng ngày, R đi bộ từ nhà ra đầu hẻm để mua card điện thoại. Do thấy R có biểu hiện nghi vấn, Công an xã Phước An đã yêu cầu R về trụ sở Công an xã để làm việc và tiến hành test nhanh ma túy cho kết quả dương tính. Qua làm việc, R đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Công an xã Phước An đã thu giữ gói ma túy trên, lập biên bản quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số: 1549/KLGĐ-PC09 ngày 29/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1439gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định sau giám định có khối lượng: 0,1133.
* Vật chứng vụ án:
+ 01 gói nylon hàn kín, kích thước 1,5cm x 1,5cm đã hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ trong trong phòng ngủ của Nguyễn Hữu R.
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen của Nguyễn Hữu R là phương tiện dùng để liên lạc mua ma túy.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 211/CT-VKS-NT ngày 09/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo: Nguyễn Hữu R về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, không tiền án, tiền sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu R mức án từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Toà tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1133 gam được niêm phong trong phong bì có ký hiệu số: 1549/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai có các chữ ký ghi rõ họ tên: Cao Đình Chung, Lê Văn Hùng và hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là tang vật vụ án.
- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Đối với đối tượng tên Sơn X là người bán ma túy cho R, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu R khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Vào ngày 24/7/2021, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,1439gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng tại ấp Bà Trường, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Bản thân bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn cất giấu trái phép trong người để sử dụng.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, không tiền án, tiền sự, nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước.
Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo nhận thức, cải tạo, giáo dục trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, bên cạnh sự răn đe và phòng ngừa chung của chính sách pháp luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1133 gam được niêm phong trong phong bì có ký hiệu số: 1549/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai có các chữ ký ghi rõ họ tên: Cao Đình Chung, Lê Văn Hùng và hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là tang vật vụ án.
- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Sơn Xe là người bán ma túy cho R, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu R 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/8/2021.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1133 gam được niêm phong trong phong bì có ký hiệu số: 1549/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai có các chữ ký ghi rõ họ tên: Cao Đình Chung, Lê Văn Hùng và hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là tang vật vụ án.
- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Đối với đối tượng tên Sơn X là người bán ma túy cho R, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu R phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. Nhơn Trạch; - Công an H. Nhơn Trạch; - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |