vanban.org

Bản án 194/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/08/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Y K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2021/HS-PT
Ngày: 31 – 8 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Duy Hữu

2. Ông Nguyễn Tấn Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc nh-Th ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cầu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2021/TLPT-HS ngày 12/7/2021 đối với bị cáo Y K, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST, ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Y K (tên gọi khác: Ma H), sinh năm 1980 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi c

trú: Buôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: M’Nông; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y B và bà H’L; Bị cáo có vợ là H’ và 03 ng ời con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú, hiện đang tại ngoại (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Công M – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà n ớc tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Địa chỉ: Đ ờng L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị hại:

1. Chị Lê Thị L, sinh năm 1988.

2. Ông Lê Nguyên T, sinh năm 1962.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988.

2. nh Vũ Mạnh K, sinh năm 1986.

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.

3. Công ty TNHH N

Địa chỉ: Đ ờng Y, ph ờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Ng ời đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đình N, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Đ ờng A, ph ờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk .

(Tất cả đều vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào sáng ngày 26/02/2020, chị Nguyễn Thị H nhờ Y K điều khiển xe máy kéo không biển kiểm soát là xe máy kéo của chị H để chở một số gỗ Muồng từ thị trấn L, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk về nhà chị H tại Km 3+700 Tỉnh lộ 687 thuộc thôn H, xã Đ, huyện L. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi xếp lên thùng moóc xe máy kéo khoảng 33 cây gỗ hộp, có kích th ớc rộng (0.8x3.5)cm, chiều dài trung bình 324cm – 344cm và 33 tấm ván gỗ Muồng, có kích th ớc rộng (20x2)cm, chiều dài trung bình từ 250cm – 320cm thì phần đầu các thanh gỗ Muồng trên thùng moóc xe máy dài v ợt quá chiều dài của thùng moóc xe máy kéo (200x100x35)cm từ 75cm đến 159cm. Sáu đó, Y K điều khiển xe máy kéo chở gỗ Muồng đi theo đ ờng tỉnh lộ 687 vào h ớng xã B để chở về nhà chị H. Khi đi đến gần nhà chị H thì Y K quan sát các ph ơng tiện trên đ ờng từ hai h ớng rồi từ từ điều khiển xe máy kéo đi sang phần đ ờng bên trái theo h ớng đi để đi lên cổng vào trong sân nhà chị H. Lúc này, Y K trả về số 1 và tăng ga điều khiển xe máy kéo từ từ đi lên đoạn đ ờng dốc tr ớc cổng nhà (chiều dài 500cm, chiều rộng 300cm, chiều cao 58cm) để đi vào trong sân nhà chị H, nh ng khi hai bánh tr ớc của xe máy kéo đã đi qua cổng còn hai bánh sau của thùng moóc xe máy kéo đi lên gần đỉnh đoạn dốc, do trên thùng moóc chở nhiều thanh gỗ Muồng dài v ợt quá kích th ớc dẫn đến phần gỗ v ợt quá thùng moóc xe máy kéo đã kéo phần thùng phía sau trùng xuống làm cho hai bánh tr ớc bị nhấc hổng lên xoay tròn, không bám xuống đ ợc mặt sân để tiếp tục di chuyển lên sân. Vì vậy, xe máy kéo do Y K điều khiển bị chững lại rồi từ từ trôi lùi lại phía sau xuống mặt đ ờng Tỉnh lộ 687. Lúc này, Y K dùng hai tay cố gắng giữ chặt hai càng điều khiển, đạp thắng sau đồng thời tăng ga để giữ và điều khiển xe máy kéo đi tiếp vào trong sân để xe không tiếp tục bị trôi lùi lại phía sau. Nh ng do hai bánh tr ớc của xe máy kéo không bám xuống đ ợc mặt sân nên tiếp tục bị trôi lùi xuống mặt đ ờng Tỉnh lộ 687. Cùng thời điểm này, ông Lê Nguyên T điều khiển xe mô tô BKS 47N1-066.80 chở theo chị Lê Thị L, cháu Phạm Huy H, sinh năm 2014 và cháu Phạm Thị Hoàng, sinh năm 2017, trú cùng địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện L, đang l u thông trên phần đ ờng bên phải theo h ớng từ xã B, huyện L đi ra h ớng đ ờng quốc lộ 27, cách lề đ ờng khoảng 150cm. Khi ông T điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đ ờng phía tr ớc cổng nhà chị H, ngang với phần sau của thùng moóc xe máy kéo đang chở các thanh gỗ muồng thì bị phần đầu của thanh gỗ Muồng có chiều dài v ợt quá chiều dài thùng xe máy kéo đang trôi lùi xuống mặt đ ờng tỉnh lộ 687 va chạm trúng vào phần đuôi bên phải của xe mô tô do ông T đang điều khiển. Sau khi xảy ra va chạm, ông T cùng chị L, cháu H, cháu Y cùng với xe mô tô bị đổ ngã xuống mặt đ ờng tỉnh lộ 687. Cùng thời điểm này, xe ô tô ben chở vật liệu, BKS 47P-2605 do Nguyễn Khắc H điều khiển đang đi trên đ ờng tỉnh lộ 687 theo h ớng từ đ ờng Quốc lộ 27 vào xã B đi đến. Do khoảng cách quá gần và bất ngờ nên H chỉ kịp xử lý đánh lái điều khiển xe ô tô tránh về bên phải để tránh va chạm nh ng bánh xe ô tô phía sau bên trái của xe ô tô BKS 47P-2605 đã cán qua xe mô tô và chân trái của chị L. Hậu quả: Chị Lê Thị L bị th ơng tích nặng đ ợc đ a đi bệnh viện cấp cứu và điều trị, xe mô tô bị h hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện tr ờng ngày 26/02/2020 thể hiện: Đoạn đ ờng nơi xảy ra tai nạn là đoạn đ ờng cong và có tầm nhìn một chiều hạn chế về hai h ớng tại địa phận Km 3+700m Tỉnh lộ 687. Mặt đ ờng nơi xảy ra tai nạn bằng phẳng và đ ợc trải bê tông xi măng rộng 588cm, lề đ ờng đất bên phải và bên trái rộng 60cm. Cách trung tâm hiện tr ờng khoảng 70m về hai h ớng không có biển báo giao thông đ ờng bộ.

Trong quá trình khám nghiệm hiện tr ờng, thống nhất lấy mép đ ờng bên phải h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi vào xã B làm mép đ ờng chuẩn và lấy chân cột mốc số 3+700m làm mốc cố định cho các số đo vị trí ph ơng tiện và dấu vết tại hiện tr ờng, sử dụng ph ơng pháp cuốn chiếu theo h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi vào xã B để tiến hành khám nghiệm. Tại hiện tr ờng phát hiện:

- Dấu vết chà lốp song song kích th ớc (450x100)cm, chiều h ớng dấu vết

h ớng từ đ ờng Quốc lộ 27 đi vào xã B đ ợc ký hiệu trong sơ đồ là (1a) và (1b). Đo từ vị trí dấu vết (1a) vào mép đ ờng chuẩn là 166cm và đo đến vị trí mốc chuẩn là 1165cm, đo từ vị trí cuối dấu vết (1a) vào mép đ ờng chuẩn là 200cm; dấu vết (1b) có chiều h ớng và kích th ớc giống với dấu vết (1a), song song và cách dấu vết (1a) 28cm;

- Dấu vết cày trên mặt đ ờng bê tông kích th ớc (15x2x0,5)cm, chiều

h ớng dấu vết từ lề đ ờng bên trái h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi xã B sang lề đ ờng bên phải đ ợc ký hiệu trong sơ đồ (2a) và (2b). Đo từ vị trí đầu dấu vết (2a) vào mép đ ờng chuẩn là 284cm và đo đến vị trí cuối dấu vết (1b) là 1635cm, đo từ vị trí cuối dấu vết (2a) vào mép đ ờng chuẩn là 272cm. Đo từ vị trí đầu dấu vết (2b) vào mép đ ờng chuẩn là 275cm và đo đến vị trí đầu dấu vết (2a) là 6cm, đo từ vị trí cuối dấu vết (2b) vào mép đ ờng chuẩn là 266cm;

- Dấu vết cày trên mặt đ ờng bê tông kích th ớc (17x3x1)cm, chiều h ớng

dấu vết h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi xã B đ ợc ký hiệu trong sơ đồ (3). Đo từ vị trí đầu dấu vết (3) vào mép đ ờng chuẩn là 207cm và đo đến vị trí cuối dấu vết (2b) là 77cm, đo từ vị trí cuối dấu vết (3) vào mép đ ớng chuẩn là 207cm;

- Xe mô tô BKS: 47N1-066.80 nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe h ớng từ lề đ ờng bên trái h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi xã B sang lề đ ờng bên phải, đuôi xe h ớng ng ợc lại, ký hiệu (4). Đo từ vị trí tâm trục bánh xe tr ớc của xe (4) vào mép đ ờng chuẩn là 203cm và đo đến vị trí đầu dấu vết (3) là 34cm, đo từ vị trí tâm trục bánh xe sau của xe (4) vào mép đ ờng chuẩn là 330cm và đo đến vị trí mốc chuẩn là 3310cm;

- Dấu vết cày trên mặt đ ờng bê tông kích th ớc (15x1x0,3)cm chiều h ớng

xã B đi ra đ ờng Quốc lộ 27 đ ợc ký hiệu trong sơ đồ (5). Đo từ vị trí đầu dấu vết (5) vào mép đ ờng chuẩn là 344cm và đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau của xe (4) là 62cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau của xe (4) là 62cm, đo từ vị trí cuối dấu vết (5) vào mép đ ờng chuẩn là 335cm;

- Dấu vết máu kích th ớc (100x50)cm, đ ợc ký hiệu trong sơ đồ (6). Đo từ

vị trí tâm dấu vết (6) vào mép đ ờng chuẩn là 233cm và đo đến vị trí cuối dấu vết (6) là 115cm.

- Xe máy kéo không biển kiểm soát, đầu xe h ớng vào lề đ ờng bên phải

(h ớng xã B đi ra đ ờng Quốc lộ 27), đuôi xe h ớng ng ợc lại, đ ợc ký hiệu (7). Đo từ vị trí tâm trục bánh xe sau bên trái của xe (7) vào mép đ ờng chuẩn 550cm, đo đến vị trí tâm dấu vết (6) là 368cm, đo đến vị trí mốc chuẩn là 3585cm. Đo từ vị trí tâm trục bánh xe sau bên phải của xe (7) vào mép đ ờng chuẩn là 590cm. Đo từ vị trí tâm trục bánh xe tr ớc bên trái của xe (7) vào mép đ ờng chuẩn là 870cm và đo đến vị trí tâm dấu vết (6) là 664cm;

- Hai dấu vết chà lốp bánh xe (7) có kích th ớc bằng nhau (450x11)cm

chiều h ớng từ lề đ ờng bên trái h ớng đ ờng Quốc lộ 27 đi xã B sang lề đ ờng bên phải, đ ợc ký hiệu (8a) và (8b). Đo từ vị trí đầu dấu vết (8a) vào mép đ ờng chuẩn là 1340cm, đo từ cuối vị trí dấu vết (8a) đến vào mép đ ờng chuẩn là 890cm và đo đến vị trí tâm trục bánh xe tr ớc bên trái của xe (7) là 20cm. Dấu vết (8b) song song với dấu vết (8a), đầu dấu vết (8a) cách đầu dấu vết (8b) là 70cm, cuối dấu vết (8a) cách cuối dấu vết (8b0 là 70cm;

- Xe ô tô tải BKS 47P-2605, đầu xe h ớng Quốc lộ 27 đi xã B, đuôi xe h ớng ng ợc lại đ ợc ký hiệu (9). Đo từ vị trí tâm trục bánh xe sau cùng bên trái của xe (9) vào mép đ ờng chuẩn là 175cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau bên phải của xe (9) là 132cm và đo đến vị trí mốc chuẩn là 4900cm. Đo từ vị trí tâm trục bánh xe tr ớc bên trái của xe (9) vào mép đ ờng chuẩn là 150cm;

Quá trình khám nghiệm hiện tr ờng xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô 47N1- 066.80 và xe máy kéo đ ợc ký hiệu (ĐVC 1). Đo từ vị trí tâm (ĐVC1) vào mép đ ờng chuẩn là 426cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau bên trái của xe máy kéo là 122cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau của xe mô tô 47N1-066.80 là 240cm, đo đến vị trí mốc chuẩn là 3540cm và đo đến vị trí cuối (1a) là 1975cm. Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô 47N1- 066.80 và xe ô tô tải BKS 47P-2605 đ ợc ký hiệu trong sơ đồ là (ĐVC2). Đo từ vị trí tâm (ĐVC2) vào mép đ ờng chuẩn là 205cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe tr ớc của xe mô tô 47N1-066.80 là 49cm, đo đến vị trí tâm trục bánh xe sau cùng bên trái của xe ô tô tải BKS 47P-2605 là 1712cm và đến mốc chuẩn là 3210cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y th ơng tích số 481/TgT-TTPY ngày 22/5/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận tỷ lệ th ơng tích của Lê Thị L là 76%. Tại bản kết luận giám định pháp y th ơng tích các số 482, 483, 484/TgT-TTPY ngày 04/5/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận tỷ lệ th ơng tích của ông Lê Nguyên T là 2%, cháu Phạm Huy H là 02%, cháu Phạm Thị Hoàng Y là 0%.

Tại bản kết luận số 13/KL-HĐĐGTS ngày 18/08/2020 của Hội đồng định giá tài sản th ờng xuyên huyện Lắk kết luận: Giá trị thiệt hại h hỏng của xe mô tô BKS 47N1-066.80 là 4.820.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lắk tạm giữ các vật chứng gồm: 01 xe mô tô BKS 47N1-066.80, nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen, số khung 4615EY059225, số máy JF46E2087998; 01 xe máy kéo không biển kiểm soát và toàn bộ 66 thanh ván, cây gỗ muồng, có chiều dài trung bình từ 250cm – 344cm, có tổng trọng l ợng 676 kg xếp trên thùng moóc xe máy kéo; 01 xe ô tô BKS 47P-2605, loại xe ô tô tải, nhãn hiệu DONGFENG, màu vàng, số máy L3752087873923, số khung LGAXLNSPXA2919517.

Quá trình điều tra, xác định chiếc xe máy kéo không biển kiểm soát và toàn bộ 66 thanh ván, cây gỗ muồng là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình anh Vũ Mạnh Kg và chị Nguyễn Thị H; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47N1-066.80 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị L; 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 47P-2605 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH N nên cơ quan CSĐT – Công an huyện Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý sử dụng.

Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị can Y K đã tự nguyện thỏa thuận và bồi th ờng chi phí điều trị th ơng tích cho chị Lê Thị L, với số tiền 20.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị H đã tự nguyện hỗ trợ cho chị L số tiền 50.000.000 đồng để điều trị th ơng tích. nh Nguyễn Khắc H và Công ty TNHH N (chủ sở hữu xe ô tô tải BKS 47P-2605) tự nguyện hỗ trợ cho chị L tổng số tiền 138.000.000 đồng. Chị Lê Thị L đã làm đơn bãi nại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y K và không có yêu cầu bồi th ờng gì về phần trách nhiệm dân sự cũng nh thiệt hại về sức khỏe của cháu Phạm Huy H. Ông Lê Nguyên T không có yêu cầu bồi th ờng đối với thiệt hại về sức khỏe của mình nên không đề cập giải quyết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST, ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Y K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”.

Căn cứ: Điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Y K 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/5/2021, bị cáo Y K kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị Tòa án án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng án treo.

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Y K đã khai nhận hành vi phạm tội nh nội dung Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo và xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 02 năm tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo nh ng đã cố gắng bồi th ờng khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình, là lao động chính trong gia đình; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và đ ợc ng ời bị hại bãi nại; có nơi c trú ổn định, rõ ràng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Y K 02 năm tù, nh ng cho h ởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”, thời gian thử thách là 04 năm; đồng thời giữ nguyên các quyết định khác của Bản án sơ thẩm.

Ng ời bào chữa của bị cáo Y K đồng ý với với quan điểm của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo đ ợc h ởng án treo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1] Vào sáng ngày 26/02/2020, chị Nguyễn Thị H nhờ bị cáo Y K điều khiển xe máy kéo không biển kiểm soát để chở một số gỗ Muồng từ thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk về nhà chị H tại Km 3+700 Tỉnh lộ 687 thuộc thôn H, xã Đ, huyện L. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi xếp lên thùng moóc xe máy kéo khoảng 33 cây gỗ hộp và 33 tấm ván gỗ Muồng thì phần đầu các thanh gỗ Muồng trên thùng đã dài v ợt quá chiều dài của thùng moóc xe máy kéo (200x100x35)cm từ 75cm đến 159cm. Sáu đó, Y K điều khiển xe máy kéo chở số gỗ trên đi theo đ ờng tỉnh lộ 687 vào h ớng xã Buôn Tría để chở về nhà chị H. Khi đi đến gần nhà chị H thì Y K quan sát các ph ơng tiện trên đ ờng từ hai h ớng rồi từ từ điều khiển xe máy kéo đi qua phần đ ờng bên trái để lên cổng vào trong sân nhà chị H. Quá trình điều khiển xe, do đ ờng lên cổng vào sân nhà chị H dốc và thùng xe chở nhiều thanh gỗ Muồng dài v ợt quá chiều dài thùng xe nên khi hai bánh tr ớc của xe máy kéo đã đi qua cổng nh ng phần thùng phía sau trùng xuống làm cho hai bánh tr ớc bị nhấc hổng lên xoay tròn, không bám xuống đ ợc mặt sân để tiếp tục di chuyển lên sân, nên bị chững lại rồi từ từ trôi lùi lại phía sau mặc dù Y K đã cố gắng đạp thắng, tăng ga để tiếp tục cho xe đi tiếp vào sân. Cùng thời điểm này, ông Lê Nguyên T điều khiển xe mô tô BKS 47N1-066.80 chở theo chị Lê Thị L, cháu Phạm Huy H, sinh năm 2014 và cháu Phạm Thị Hoàng Y, sinh năm 2017, trú cùng địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện L, đang l u thông trên phần đ ờng bên phải theo h ớng từ xã B, huyện Lắk đi ra h ớng đ ờng quốc lộ 27, cách lề đ ờng khoảng 150cm, thì bị phần đầu của thanh gỗ Muồng v ợt quá thùng xe của Y K đang lùi lại va chạm trúng vào phần đuôi bên phải của xe mô tô làm xe và những ng ời ngồi trên xe ông T ngã xuống mặt đ ờng. Lúc này, xe ô tô ben (xe tải) chở vật liệu mang BKS 47P-2605 do Nguyễn Khắc H điều khiển đang đi trên đ ờng tỉnh lộ 687 theo h ớng từ đ ờng Quốc lộ 27 vào xã B đi đến. Do khoảng cách quá gần và bất ngờ nên H chỉ kịp xử lý đánh lái điều khiển xe ô tô tránh về bên phải để tránh va chạm nh ng bánh xe ô tô phía sau bên trái của xe ô tô tải đã cán qua xe mô tô của anh T và chân trái của chị L, hậu quả chị chị Lê Thị L bị th ơng tích 76%, ông Lê Nguyên T bị th ơng tích 2%, cháu Phạm Huy H bị th ơng tích 2% và làm h hỏng về tài sản. Do đó, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Y K đã phạm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ pháp lý, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi điều khiển xe máy kéo tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe hạng A4, có hành vi điều khiển xe máy kéo chở hàng cồng kềnh v ợt quá thùng xe của bị cáo Y K đã vi phạm quy định tại Khoản 9, Khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đ ờng bộ, điểm a Khoản 2 Điều 9 Thông t 46/2015/TT-BGTVT ngày 07/9/2015 của Bộ giao thông vận tải, dẫn đến gây tai nạn và thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, tài sản của ng ời khác.

[3] Xét kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo của bị cáo Y K, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là t ơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ, nguyên nhân gây ra tai nạn trong vụ án này là do bị cáo Y K điều khiển xe máy kéo chở cây gỗ dài v ợt quá thùng xe gây cản trở giao thông, không đảm bảo an toàn nên khi xe vừa lên dốc và cho xe đi vào cổng nhà chị H thì xe bị chững lại rồi từ từ trôi lùi lại phía sau xuống mặt đ ờng làm cho các ph ơng tiện khác khi tham gia giao thông khó xử lý gây tai nạn. Tuy nhiên, ông Lê Nguyên T là ng ời điều khiển chiếc xe mô tô, trên xe chở 4 ng ời và chở một ng ời phía tr ớc là không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông; tại đoạn đ ờng xảy ra tại nạn thì theo Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng là đoạn đ ờng dốc quanh co và hạn chế tầm nhìn về phía cả hai h ớng nên khi xe máy kéo bị tuột dốc đi lùi lại về phía mặt đ ờng Tỉnh lộ thì chiếc xe mô tô do ông T điều khiển xử lý không kịp va chạm vào cây gỗ làm chiếc xe bị ngã xuống đ ờng và lúc này có xe ô tô tải đang xuống dốc ông Nguyễn Khắc H điều khiển chạy tới do quá gần và hạn chế tầm nhìn nên đã xử lý không kịp thời gây ra tai nạn với hậu quả làm chị L bị th ơng nặng. Nh vậy, tai nạn xảy ra ông H và ông T cũng có một phần lỗi nhất định bởi đoạn đ ờng dốc quanh co và hạn chế tầm nhìn nên đây là sự kiện bất ngờ.

Mặt khác, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã bồi th ờng thiệt hại và đ ợc bị hại bãi nại, là ng ời dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình và có 03 con nhỏ. Do vậy, không cần thiết cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo đ ợc tự cải tạo d ới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa ph ơng cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt là phù hợp.

[4] Về án phí: Do kháng cáo đ ợc chấp nhận nên bị cáo Y K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố

tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y K, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST, ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.

2. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Y K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”.

Áp dụng điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Y K 02 (hai) năm tù, nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Y K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa ph ơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Tr ờng hợp bị cáo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Y K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo Y K phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho h ởng án treo. Tr ờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Y K phải chấp hành hình phạt của Bản án tr ớc và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Bị cáo Y K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ