- Tranh chấp gì? án hình sự — "lò Văn S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 194/2019/HS-ST Ngày: 23- 10- 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Hải
2. Ông: Lò Văn Ơn
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2019/TLST-HS ngày 11/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2019/QĐXXST-HS ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn S; Tên gọi khác: Không;
Sinh năm 1996, tại Đ B.
Nơi đăng ký NKTT: Bản Na D, xã Hẹ M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Th - SN 1973; con bà Lò Thị S
- SN 1973; Vợ, con: Chưa có; gia đình bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ 2; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Sử dụng ma túy từ năm 2012; bị tạm giữ tạm giam từ ngày 18/7/2019 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.
2. Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Tiến Ng - Là luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện B, có mặt bào chữa cho bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/7/2019, Lò Văn S từ nhà đi bộ đến Bản Na C, xã Hẹ M để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến bản Na C, xã Hẹ M bị cáo gặp trao đổi và mua được 05 viên Methamphetamine được gói trong gói nilon màu đen miệng gói được xoắn lại với giá 150.000 đồng của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 35 tuổi không biết tên địa chỉ. Sau khi mua xong, bị cáo cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái và đi về còn người phụ nữ đi đâu không rõ. Hồi 19 giờ cùng ngày khi Lò Văn S đang đi bộ về đến khu vực bản Nậm H, xã Hẹ M, huyện B thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên trái S đang mặc 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa 05 viên Methamphetamine
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 09 giờ 10 phút ngày 19/7/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện B đã xác định: Số viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,52 gam, trích mẫu gửi giám định 0,11 gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 788/GĐ-PC09 ngày 25/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ B đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định thu giữ của Lò Văn S là Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do cần có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã đi mua ma túy bị bắt quả tang khi đang tàng trữ 0,52 gam Methamphetamine. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 187/CT-VKSĐB ngày 10/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; Điểm s Khoản 1 điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 15 đến 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249/BLHS.
Về vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Methamphetamine đã trích mẫu gửi giám định 0,11 gam không hoàn lại mẫu.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi của mình.
Quan điểm bào chữa: Nhất trí với Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án. Nhất trí về việc định tội danh, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo. Về các tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Về hình phạt: đề nghị HĐXX áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa không có tranh luận gì. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Ngày 18/7/2019, tại Bản Nậm H, xã Hẹ M, huyện Đ B, bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,52 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 02); Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 04,05); Kết luận giám định (BL 33); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249/BLHS.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,52 gam Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS với mức hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Lò Văn S sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, học hết lớp 09/12 thì ở nhà cùng gia đình. Bản thân nghiện ma tuý từ năm 2012. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xét xử sẽ xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ rất nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải nghiêm khắc phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của người đàn bà dân tộc Mông khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, HĐXX không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS. Song xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp làm ruộng lại là người nghiện ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Methamphetamine đã trích mẫu gửi giám định 0,11 gam không hoàn lại mẫu.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo thuộc diễn được miễn án phí, HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18/7/2019.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Methamphetamine đã trích mẫu gửi giám định 0,11 gam không hoàn lại mẫu.
(Toàn bộ vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên hồi 09 giờ 30 phút ngày 11 tháng 9 năm 2019)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 23/10/2019./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - CQ Điều tra CA huyện ĐB; - Bộ phận HSNV CA H. Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - THA DS Điện Biên, THA HS; - Bị cáo; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Ơn HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thƣơng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |