- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tống Hoàng H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 194/2018/HS-ST Ngày 30-07-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Cƣờng.
2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2018/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 199/2018/HSST-QĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Tống Hoàng H, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: 477 H, Phƣờng A, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh ; Chỗ ở: Số 8A/1, khu phố N, phƣờng B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tống S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; bị cáo có vợ tên Lê Thị N, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không, bị bắt tạm giam ngày 06/4/2018, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứ ng:
1. Anh Bùi Hoàng K, sinh năm 1989; địa chỉ thƣờng trú: Ấp 5, xã V, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ liên hệ: 5/59 khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
2. Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1991; địa chỉ thƣờng trú: Ấp N, xã L, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên hệ: 5/59 khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Tống Hoàng H là đối tƣợng sử dụng ma túy đá (Methamphetamine) từ đầu năm 2018.
Khoảng 18 giờ ngày 06/4/2018, H đón xe mô tô chở Kch đi từ ngã tƣ Bình Thung, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đến khu vực ngã tƣ An Phú, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng và dùng điện thoại hiệu Masstel A129, sim số 0901.254.724 gọi cho ngƣời phụ nữ tên H (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, lát sau H đến đƣa cho H một gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và H đƣa cho H 500.000 đồng, đồng thời H xin H một bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có sẵn một ít ma túy đá. Sau khi mua xong, H cất gói ma túy vào ví và để trong túi quần sau bên phải rồi đi vào quán cà phê (không rõ địa chỉ) để uống nƣớc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H đón xe mô tô chở Kch về phòng trọ cùa Bùi Hoàng K tại địa chỉ số 5/59, khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, trong phòng lúc này có K và Hà Văn Đ. Tại đây, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã xin đƣợc của H rồi cùng K và Đ chuẩn bị sử dụng thì bị lực lƣợng Công an phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra hành chính phòng trọ của K phát hiện và mời cả 3 ngƣời về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Công an phƣờng An Bình, H lấy gói ma túy đang đƣợc cất trong ví ra giao nộp cho Công an.
Theo kết luận giám định số 214/MT-PC54 ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể trong 01 gói nylon hàn kín gửi giám định là ma túy loại Methametamine, trọng lƣợng 0,8732 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định số 214/MT-PC54 ngày 13/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A129 màu xanh đen, sim số 0901.254.724.
Đối với ngƣời phụ nữ tên H bán ma túy cho bị cáo, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Bùi Hoàng K và Hà Văn Đ không biết H tàng trữ ma túy và cũng không góp tiền để mua ma túy với H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính đối với K và Đ, mỗi ngƣời phải nộp phạt số tiền là 750.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Tống Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh đen, là điện thoại H sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa 0,8148 gam ma túy Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và sim số 0901 254 724.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và đối chiếu với quy định tại điểm i khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhận thấy hành vi bị cáo H lấy gói ma túy đang đƣợc cất trong ví ra giao nộp cho lực lƣợng Công an phƣờng, tại Công an phƣờng An Bình cũng nhƣ quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là hành vi đầu thú của bị cáo H. Trong trƣờng hợp này Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng phải lập biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu thú nhƣng Cơ quan cảnh sát điều tra lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang là chƣa đúng với quy định.
Ngoài hành vi đã phân tích ở trên thì các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 18 giờ ngày 06/4/2018, H đón xe mô tô chở khách đi từ ngã tƣ Bình Thung, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đến khu vực ngã tƣ An Phú, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng điện thoại cho ngƣời phụ nữ tên H (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 500.000 đồng ma túy đá, sau đó H đến đƣa cho H một gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và nhận 500.000 đồng từ H, H xin H một bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có sẵn một ít ma túy đá rồi cất gói ma túy vào ví để trong túi quần sau bên phải. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H đón xe mô tô chở khách về phòng trọ của Bùi Hoàng K tại địa chỉ số 5/59, khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, tại đây, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã xin đƣợc của H rồi cùng K và Đ chuẩn bị sử dụng thì bị lực lƣợng Công an phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện mời về trụ sở làm việc, tại đây H lấy gói ma túy đang đƣợc cất trong ví ra giao nộp cho Công an và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ kết luận giám định số 214/MT-PC54 ngày 13/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 0,8732 gam, loại Methametamine.
Xét, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là rất nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H về tô ̣i tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cƣớp giật, giết ngƣời và nhiều tội phạm khác. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho mọi ngƣời hiểu biết về tác hại của ma túy và đang ra sức phòng chống. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú và tại Cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t Hội đồng xét
̀ xử sẽ xem xét giảm mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.
̀
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự.
Về xử lý vật chứng:
- Xét 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng có thành phần Methamphetamine có trọng lƣợng hoàn lại sau giám định là 0,8148 g là vật cấm lƣu thông và sim số 0901 254 724 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh đen là điện thoại H sử dụng để liên lạc mua ma túy cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.
Đối với ngƣời phụ nữ tên H bán ma túy cho H hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Bùi Hoàng K và Hà Văn Đ không biết H tàng trữ ma túy và cũng không góp tiền để mua ma túy với H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính đối với K và Đ, mỗi ngƣời phải nộp phạt số tiền là 750.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hô ̣i đồng xét xƣ̉ nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa 0,8148 gam ma túy Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và sim số 0901.254.724.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh đen (số Imei: 301014165167070).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/6/2018, bút lục 83).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Tống Hoàng H phải nộp 200.000 (hai trăm nghin) đồng
̀ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mă ̣t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an TX Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - UBND P A, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PV 27 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Phòng PC 81 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Bị cáo; - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thi ̣ Kim Hoa |