- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣơng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 193/2025/HS-ST Ngày: 19-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Cƣờng và bà Bùi Thị Thúy Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 170/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 203/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Lƣơng Minh T, sinh năm 1980, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: 177 Đ, khu phố D, phƣờng T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 57 đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lƣơng Văn X, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị H, đã chết; bị cáo chƣa có vợ con; có 01 em ruột, sinh năm 1982; tiền án: Ngày 15/6/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2022, đóng án phí sơ thẩm, phúc thẩm ngày 30/11/2017; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/7/2003, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 06 tháng tù về tội “Giả mạo chức vụ, cấp bậc” và 01 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2004, đóng án phí ngày 20/11/2003, ngày 27/12/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định về việc chữa trị cai nghiện miễn, giảm phí theo đơn tự nguyện tại Làng nghề quận E, thời hạn 24 tháng, ngày 14/01/2007 chấp hành xong quyết định; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024. Có m t.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Quang Thị S, sinh năm 1970; địa chỉ: bản K, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng m t.
2. Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1974; địa chỉ: A đƣờng I, khu phố E, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng m t.
- Người chứng kiến: Ông Trần Đức T1. Vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lƣơng Minh T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 1997, loại ma túy T đang sử dụng là ma túy đá tên khoa học là methamphetamine.
Khoảng 13 giờ 00 phút này 01/10/2024, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, Exciter, màu xanh biển số 59X3-207.78 đi đến khu vực C ở khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T g p ngƣời thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch). T hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng thì đƣợc ngƣời thanh niên đƣa 01 (một) túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi mua đƣợc ma túy, T mang về phòng trọ số 8, địa chỉ 57 đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, phân ra thành nhiều túi nylon nhỏ cất giấu ở nhiều nơi trong phòng trọ để sử dụng dần. Đến khoảng 19 giờ 30 ngày 03/10/2024, T đang ở phòng trọ thì lực lƣợng Công an phƣờng A phối hợp với Đội Cảnh sát Kinh tế - ma túy Công an thành phố D đi kiểm tra hành chính phòng số 8 của T phát hiện trên bàn gỗ trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa gắn vào nắp chai nhựa và 01 chai nhựa). Ngoài ra, trong gói thuốc lá hiệu caraven không nắp đậy có 01 túi nilon lớn bên trong có 03 túi nilon miệng kéo dính viền xanh chứa chất tinh thể màu trắng, 02 túi nilon miệng kéo dính viền đỏ trong đó có 01 túi chứa chất chất tinh thể màu trắng, 01 túi không chứa gì, T khai nhận là ma túy nên Công an phƣờng A lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra lệnh khám xét khẩn cấp phòng trọ của T, phát hiện: trong ngăn kéo trên của bàn gỗ trong phòng có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng đƣợc đựng trong hộp nhựa; trong ngăn kéo dƣới của bàn gỗ trong phòng có 02 túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng; tiếp tục khám xét trên sào quần áo trƣớc phòng trọ có 01 áo khoác màu xám đen trong túi áo bên trái có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng.
* Vật chứng thu giữ: 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa gắn vào nắp chai nhựa và 01 chai nhựa. 01(một) gói thuốc lá hiệu caraven không nắp đậy bên trong có 01 túi nilon lớn bên trong có 03(ba) túi nilon miệng kéo dính viền xanh chứa chất tinh thể màu trắng, 02(hai) túi nilon miệng kéo dính viền đỏ trong đó có 01 túi chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi không chứa gì. 01(một) túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng đƣợc đựng trong hộp nhựa; 02(hai) túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng trong ngăn kéo dƣới của bàn gỗ trong phòng; 01(một) túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng trong túi áo khoác bên trái; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, gắn biển số: 59X3-20778; có số khung RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834.
* Kết luận giám định số 4687 ngày 12/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận nhƣ sau: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lƣợng: 0,8291 g (M1-1); 0,1859 g (M1-2); 5,0269g (M2); 0,9728 g (M3); 0,1506g (M4). Tổng khối lƣợng ma túy là 7,1653gam.
Tại Cáo trạng số 196/CT-VKS-DA ngày 20 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lƣơng Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lƣơng Minh T mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
* Xử lý vật chứng:
Đối với ma túy hoàn lại sau giám định đƣợc niêm phong trong 04 bì thƣ có khối lƣợng hoàn lại sau giám định là 0,7877g (M1-1); 0,1234 g (M1-2); 4,9393g (M2), 0,9074g (M3) và 0,1083g (M4); 01(một) gói thuốc lá hiệu caraven không nắp đậy và 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gắn vào nắp chai nhựa và 01 chai nhựa (gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa) cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Lƣơng Minh T, chƣa rõ nhân thân, lai lịch Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý.
Đối với ông Trần Đức T1, sinh năm: 1954, thƣờng trú: 22/8 (57) khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cho T thuê phòng, không biết T sử dụng phòng để tàng trữ ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đề nghị xử lý.
Đối với xe 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, gắn biển số: 59X3-20778; có số khung RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834. Qua xác minh thể hiện, biển số 59X3-20778 đƣợc cấp cho xe môtô nhãn hiệu Future đỏ ghi xám, số khung RLHJC7615GZ099652, số máy JL76E0147912. Xe do anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1974, thƣờng trú: 111 đƣờng I, khu phố E, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ sở hữu. Anh K đang sử dụng xe cùng biển số. Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh, có số khung RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834 đƣợc cấp biển số 37C1-096.61 do bà Quang Thị S, sinh năm: 1970, thƣờng trú: bản K, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An là chủ. Bà S đã bán xe cho ngƣời không rõ nhân thân, lai lịch vào năm 2017, không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã giám định số khung, số máy và đăng báo nhƣng vẫn không ai đến nhận là chủ xe. Xe do T mua lại của ngƣời không rõ nhân thân, lai lịch và sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc đối với xe môtô và tịch thu tiêu hủy đối với biển số 59X3-20778.
Tại phiên tòa, bị cáo Lƣơng Minh T không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Lúc 19 giờ 30 ngày 03/10/2024, tại phòng trọ số H, địa chỉ E đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lƣơng Minh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại methamphetamine có khối lƣợng 7,1653gam nhằm mục đích sử dụng trong khi Lƣơng Minh T đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng và chƣa đƣợc xóa án tích. Hành vi của Lƣơng Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 196/CT-VKS-DA ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Nhân thân: bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử, bị xử lý vi phạm hành chính nhƣng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử lý vật chứng:
Xét ma túy hoàn lại sau giám định đƣợc niêm phong trong 04 bì thƣ có khối lƣợng hoàn lại sau giám định lần lƣợt là 0,7877g (M1-1); 0,1234 g (M1-2); 4,9393g (M2), 0,9074g (M3) và 0,1083g (M4) là chất cấm lƣu hành; 01(một) gói thuốc lá hiệu caraven không nắp đậy và 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gắn vào nắp chai nhựa và 01 chai nhựa (gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa), không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Xét xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, gắn biển số: 59X3-20778; có số khung RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834. Qua xác minh thể hiện, biển số 59X3-20778 đƣợc cấp cho xe môtô nhãn hiệu Future đỏ ghi xám, số khung RLHJC7615GZ099652, số máy JL76E0147912 do anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1974, thƣờng trú: 111 đƣờng I, khu phố E, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ sở hữu. Anh K đang sử dụng xe cùng biển số. Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh, có số khung RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834 đƣợc cấp biển số 37C1-096.61 do bà Quang Thị S, sinh năm: 1970, thƣờng trú: bản K, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An làm chủ. Bà S đã bán xe cho ngƣời không rõ nhân thân, lai lịch vào năm 2017, không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã giám định số khung, số máy và đăng báo nhƣng vẫn không ai đến nhận là chủ xe. Căn cứ lời khai của T, xe mô tô do T mua lại của ngƣời không rõ nhân thân, lai lịch và sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc. Xét biển số xe 59X3-20778 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lƣơng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g, n khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lƣơng Minh T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2024.
2. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46; điểm a khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Tịch thu tiêu hủy ma túy hoàn lại sau giám định có khối lƣợng hoàn lại sau giám định là 0,7877g (M1-1); 0,1234 g (M1-2); 4,9393g (M2), 0,9074g (M3) và 0,1083g (M4); 01 (một) gói thuốc lá hiệu caraven không nắp đậy và 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gắn vào nắp chai nhựa và 01 chai nhựa (gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa) cần và biển số 59X3-20778.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc xe môtô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, dung tích xi lanh: 149cm3, số khung: RLCUG0610GY211926; số máy: GED4E-224834.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lƣơng Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Phân trại tạm giam khu vực Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |