vanban.org

Bản án 193/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:193/2024/HS-ST
THÀNH PHỐ THUẬN AN
Ngày: 14-8-2024
TỈNH BÌNH DƢƠNG

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng

Bà Lê Yến Loan

- Thư ký phiên toà: Ông Thái Vƣơng Triều - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 227/2024/HSST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 2002 tại Bạc Liêu; nơi cƣ trú: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị É.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Ngƣời làm chứng:

Nguyễn Thế T, sinh năm 1993

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 02/4/2024, tại một quán cà phê trên địa bàn phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Văn N gặp một ngƣời đàn ông tên S (khoảng 25 tuổi, ngƣời ốm, tóc ngắn, nói giọng miền B). Do biết S là ngƣời sử dụng ma tuý nên N nhờ S mua giúp ma tuý (loại ma tuý đá) với số tiền 200.000 đồng để N sử dụng thì S đồng ý. Sau khi nhận số tiền 200.000 đồng của N, S sử dụng điện thoại của S liên hệ với ngƣời bán ma tuý, sau đó nói N đến khu vực ngã tƣ Miễu Ông C thuộc phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng sẽ có ngƣời giao ma tuý cho N. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, N đi bộ một mình đến khu vực ngã tƣ Miễu Ông C thì thấy 01 ngƣời thanh niên điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, không rõ biển số đang dừng xe trên đƣờng. Thấy N, ngƣời này ném cho N 01 gói nylon hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý (loại ma tuý đá) rồi bỏ đi. N cầm gói nylon chứa ma tuý trên trong lòng bàn tay phải và đón xe mô tô chở khách do ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1993, hộ khẩu thƣờng trú: thôn A, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi đang điều khiển trên đƣờng, N thuê ông T chở về phòng trọ tại đƣờng B, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 01 giờ 40 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô chở N đến trƣớc nhà số A, đƣờng Đ, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Công an của Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh B yêu cầu dừng phƣơng tiện để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện N đang cầm trong lòng bàn tay phải 01 gói nylon hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng, Nguyên khai nhận là ma tuý (loại ma tuý đá). Phòng C Công an tỉnh B đã tiến hành lập biên bản làm việc và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Nguyễn Văn N dƣơng tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 1748 ngày 09/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,1961 gam.

Tại bản Cáo trạng số 209/CT-VKS-TA ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong ghi số: 1748/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B là mẫu vật hoàn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với đối tƣợng tên S và ngƣời thanh niên bán ma tuý cho Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thế T không biết Nguyễn Văn N cất giấu ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý đối với T là có căn cứ.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại bản tự khai ngày 02/4/2024, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật ngày 01/4/2024, các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung. Bị cáo Nguyễn Văn N đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời chứng kiến. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 02/4/2024, tại khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Văn N có hành vi cất giấu trái phép 0,1961 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh B đã tiến hành lập biên bản làm việc và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ngƣời nào sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng. Ngoài ra còn gây tha hóa biến chất, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đồng thời việc sử dụng ma túy là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, hậu quả làm mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi vi phạm pháp luật Hình sự, xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc. Bị cáo nhận thức đƣợc tất cả những hành vi trên nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn N không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 1749/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K Công an tỉnh B.

Đối với đối tƣợng tên S và ngƣời thanh niên bán ma tuý cho Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đối với Nguyễn Thế T không biết Nguyễn Văn N cất giấu ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý đối với T là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 1749/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng K Công an tỉnh B, bên ngoài bì thƣ có chữ ký ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong Nguyễn Văn N, ngƣời chứng kiến Nguyễn Thế T, cán bộ niêm phong Hoàng Văn S1, trung tá Huỳnh Quốc D1 và dấu đỏ của Công an phƣờng B, thành phố T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố T và Công an thành phố T).

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ