vanban.org

Bản án 193/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 07/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 13-6-2022. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2022/HS-ST
Ngày: 07-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Quang Chung

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Trọng Đ, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1977 tại: Huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn 5, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: 035077003309; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng T và bà Trần Thị M; có vợ Trần Thị T1 và 02 con; tiền án: Ngày 12-6-2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13-8-2021; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24-3-1999 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-6-2022, chuyển tạm giam từ ngày 22-6-2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Trường K

Ông Vũ Văn M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 13-6-2022, tổ công tác Công an phường Nguyễn Du, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ngã 4 Quốc lộ 10 + đường T, phường Lộc Vượng, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Trần Trọng Đ đang một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 90FA-2089 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Trần Trọng Đ đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Trần Trọng Đ khai là gói Heroine vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Trần Trọng Đ về trụ sở Công an phường Nguyễn Du lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Trọng Đ 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 90FA-2089 đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Trần Trọng Đ. Tại Bản kết luận giám định số 856/GĐKTHS ngày 17-6-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, trong 01 gói giấy bạc màu vàng thu giữ của Trần Trọng Đ, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,159 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Trọng Đ khai nhận như sau: Khoảng 16 giờ ngày 13-6-2022, Trần Trọng Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 90FA-2089 đi một mình từ nhà đến khu vực ngã 3 đường Trần Thừa + đường Trần Thái Tông, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Trần Trọng Đ gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau đó Trần Trọng Đ cầm gói Heroine trên tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi Trần Trọng Đ đi đến khu vực ngã 4 Quốc lộ 10 + đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 170/CT-VKSTPNĐ ngày 26-7-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Trọng Đ đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Trọng Đ tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ từ 27 tháng tù đến 33 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.

Bị cáo Trần Trọng Đ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Trọng Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Trọng Đ trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13-6-2022; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 13-6-2022; Bản kết luận giám định số 856/GĐKTHS ngày 17-6-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 13-6-2022, tại khu vực ngã 4 Quốc lộ 10 + đường Trần Thái Tông, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Trần Trọng Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,159 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Trần Trọng Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,159 gam. Vì vậy bị cáo Trần Trọng Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Trọng Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vào ngày 12-6-2020 bị cáo Trần Trọng Đ đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên bị cáo Trần Trọng Đ sẽ bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Trọng Đ là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nam Định; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Trọng Đ không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Trọng Đ là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 90FA-2089 mà bị cáo Trần Trọng Đ sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định hiện chưa xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu chiếc xe nên đã tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí:

Bị cáo Trần Trọng Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Trọng Đ 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 13-6-2022.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 856/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-7-2022).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Trọng Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Trọng Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Trọng Đ có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ