- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Hiếu - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 193/2022/HS-PT Ngày: 22-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng
Các Thẩm phán:
1. Ông Vũ Văn Lệ
2. Ông Phan Thanh Nguyễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 86/2022/HSPT ngày 16 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 174/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Ngọc H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1980 tại Tiền Giang; Nơi đăng ký HKTT: 29/8/26 đường số 10, KP15, phường A, quận B, TP.Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số 3, đường số 2A, khu dân cư A1, xã B1, huyện C, TP.Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam – Dân tộc: Kinh – Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 12/12 – Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV N, có trụ sở tại Số 3, đường số 2A, khu dân cư A1, xã B1, huyện C, TP.Hồ Chí Minh; Con ông H1 (đã chết) và bà H2 sinh năm: 1947; Hoàn cảnh gia đình có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự - Tiền án: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại không kháng cáo:
Ông Nguyễn Đình Q (đã chết). Đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1981; địa chỉ: 984/39/8 K1, phường L1, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 ngày 24/6/2020, Nguyễn Ngọc H điều khiển xe ô tô biển số XX lưu thông trên đường X hướng từ X1 về cầu M. Khi đến trước số 117 X, phường 17, quận B, do thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách với xe đi phía trước nên xe do H điều khiển đã tông vào phía sau xe thu gom rác bằng nhựa màu xanh do anh Nguyễn Đình Q, là công nhân vệ sinh của Đội vệ sinh thuộc Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích quận B đang kéo đi theo hướng lưu thông cùng chiều từ ngã tư X1 về cầu M, song song bên trái xe ô tô chuyên dụng chở rác biển số YY. Tai nạn xảy ra làm anh Nguyễn Đình Q bị thương được H đưa đi cấp cứu tại bệnh viện nhân dân Đ đến ngày 25/6/2020 thì tử vong. Ngày 13/8/2020, phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP.Hồ Chí Minh có Kết luận giám định pháp y tử thi số 1160-20/KLGĐ-PY kết luật:
- Nguyên nhân chết: Nguyễn Đình Q chết do đa chấn thương.
- Trong máu tìm thấy cồn, nồng độ 72mg/100ml.
- Trong máu không tìm thấy ma túy. Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của lái xe Nguyễn Ngọc H có kết quả: Âm tính. Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh tiến hành khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra, kết quả như sau:
- Hiện trạng của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Đường X nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 12m60, áp dụng lưu thông hai chiều và được ngăn cách bởi dải phân cách bằng thép dài liên tục. Chiều đường lưu thông hướng từ X1 về cầu M được phân thành 02 làn đường và được ngăn cách bởi vạch sơn màu trắng không liên tục, áp dụng cho tất cả phương tiện lưu thông, trong đó làn đường sát lề đường rộng 3m00, làn đường còn lại rộng 3m30 và chiều đường lưu thông hướng ngược lại áp dụng lưu thông tương tự.
- Sắp xếp, mô tả vị trí theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết như trong biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản thực nghiệm điều tra. Ngày 28/7/2020, Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh có Quyết định số 408 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh giám định dấu vết va chạm giữa các phương tiên liên quan tai nạn. Ngày 01/10/2020, phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP.Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 1504/KLGĐ-TT kết luận:
1. Dấu vết trượt xước kim loại ở mặt trước phía trên bên phải cản trước xe ôtô biển số XX có chiều từ trái sang phải, từ dưới lên trên phù hợp với dấu vết dính chất màu trắng trên 02 (hai) ốc vít ở mặt ngoài bên trái phía sau xe thu gom rác cách mặt đất 46cm.
2. Dấu vết trượt xước nhựa ở mặt ngoài đến đèn chiếu sáng bên phải xe ôtô biển số XX có chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết trượt xước nhựa mất sơn màu xanh ở mặt ngoài phía sau xe thu gom rác có tâm dấu vết cách mặt đất 69cm.
3. Dấu vết trượt xước dính chất màu xanh ở mặt ngoài bên phải cản trước xe ôtô biển số XX có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết trượt xước nhựa mất sơn màu xanh ở mặt ngoài phía sau xe thu gom rác, vị trí thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 47cm, cách thành bên phải của xe 13cm.
4. Không đủ cơ sở kết luận các dấu vết còn lại trên xe ôtô biển số XX và xe thu gom rác.
Tại Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh, Nguyễn Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Quá trình điều tra đã xác định: Nguyên nhân xảy ra tai nạn, lỗi chính là do Nguyễn Ngọc H điều khiển xe ôtô biển số XX lưu thông không chú ý quan sát dẫn đến va chạm với xe thu gom rác do anh Nguyễn Đình Q kéo đi gom rác phía trước cùng chiều gây ra tai nạn làm anh Q chết do đa chấn thương, đã vi phạm khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 174/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, ngày 29/12/2021 bị cáo Nguyễn Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Ngọc H và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình bị cáo và giúp đỡ cho 04 người con còn nhỏ, đang tuổi đi học của bị hại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo: bị cáo Nguyễn Ngọc H có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; tại cấp phúc thẩm thì bị cáo H xuất trình thêm tình tiết gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi mẹ già và đại diện hợp pháp của bị hại cũng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên mức án 01 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Khoảng 23 giờ 30 ngày 24/6/2020, Nguyễn Ngọc H điều khiển xe ô tô biển số XX lưu thông trên đường X hướng từ X1 về cầu M. Khi đến trước số 117 X, phường 17, quận B, do thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách với xe đi phía trước nên xe do H điều khiển đã tông vào phía sau xe thu gom rác bằng nhựa màu xanh do anh Nguyễn Đình Q, là công nhân vệ sinh của Đội vệ sinh thuộc Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích quận B đang kéo đi theo hướng lưu thông cùng chiều từ ngã tư X1 về cầu M, song song bên trái xe ô tô chuyên dụng chở rác biển số YY. Tai nạn xảy ra làm anh Nguyễn Đình Q bị thương được Nguyễn Ngọc H đưa đi cấp cứu tại bệnh viện nhân dân Đ đến ngày 25/6/2020 thì tử vong. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [2] Ngày 28/12/2021, Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 29/12/2021 bị cáo Nguyễn Ngọc H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngọc H điều khiển xe ô tô biển số XX thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách với xe đi phía trước nên xe ô tô do H điều khiển đã tông vào phía sau xe thu gom rác làm xe gom rác lao về phía trước dẫn đến anh Nguyễn Đình Q ngã xuống đường, bị đa chấn thương và sau đó tử vong. Hành vi này của bị cáo đã vi phạm Luật Giao thông đường bộ, nguyên nhân do lỗi của bị cáo. Đối với bị hại, mặc dù có nồng độ cồn trong máu là cao, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến an toàn và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ra sự hoang mang, lo lắng cho người dân tham gia giao thông đường bộ nên cần có mức án nghiêm đối với bị cáo. Tuy vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Ngọc H thành khẩn khai báo; thái độ ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại; bị cáo có nhân thân thân tốt, phạm tội lần đầu; gia đình bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Và các tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo H và tuyên phạt bị cáo mức án 01 năm tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc H xuất trình thêm tình tiết gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi mẹ già bị bệnh và cấp dưỡng nuôi 02 con nhỏ; đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa phúc thẩm cũng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình bị cáo và giúp đỡ cho 04 người con còn nhỏ, đang tuổi đi học của bị hại. Hội đồng xét xử phúc nghĩ cũng nên xem xét áp dụng cho bị cáo H các tình tiết này là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra cũng cần xem xét về tình tình tiết của bị cáo là sau khi gây ra tại nạn giao thông thì chính bị cáo là người tích cực đưa bị hại đi cấp cứu tại bệnh viện, sau khi bị hại tử vong thì bị cáo phụ giúp gia đình bị hại lo ma chay cho bị hại.
Xét thấy, bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 như đã nêu ở trên, đó là bị cáo thành khẩn khai báo; thái độ ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại; bị hại đã có đơn xin bãi nãi và tại phiên tòa này tiếp tục xin cho bị cáo được hưởng án treo; gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính; đồng thời nhân thân các bị cáo tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, hội đồng xét xử cấp phúc thấm xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện để bị cáo có thể làm việc chăm sóc mẹ già, con nhỏ. Điều này cũng phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của đại diện của bị hại tại phiên tòa phúc thẩm. [4] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H và sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt: Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 22/4/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND quận Bình Thạnh; (1) - P.PC 53- CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Đại diện bị hại; (1) - THA quận Bình Thạnh; (2) - TAND quận Bình Thạnh; (2) - Công an quận Bình Thạnh; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (4) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ngọc Thắng |