vanban.org

Bản án 193/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đinh Thị C;

Buộc bà Đặng Thị Thúy P phải trả số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) cho bà Đinh Thị C. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chậm thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đinh Thị C;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH BÌNH ĐỊNH
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2021/DS-ST
Ngày: 24 - 5 - 2021
V/v “Yêu cầu buộc thực hiện
nghĩa vụ trả tiền”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Phước

2. Bà Trần Thị Thu Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2021, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2021/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Thị C, sinh năm 1955

Địa chỉ: khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Bà Đặng Thị Thúy P, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ 5 khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2021, bản tự khai, cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đinh Thị C trình bày: Từ ngày 22/01/2016, đến ngày 08/9/2016, bà Trần Thị Hạnh ở Tấn Thạnh 1, phường Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có mượn bà số tiền 70.000.000 đồng. Qua hơn 01 năm bà Hạnh có dẫn bà Đặng Thị Thúy P đến nhà bà để thỏa thuận bà P viết giấy mượn bà số tiền 70.000.000 đồng. Lúc viết giấy bà P hứa mỗi tháng sẽ trả cho bà 2.000.000 đồng. Đến ngày 27/6/2019, bà P có trả cho bà 10.000.000 đồng, sau đó bà P viết lại giấy nợ bà số tiền 60.000.000 đồng, hứa mỗi tháng trả 5.000.000 đồng nhưng bà P không trả. Nay bà kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị Thúy P trả cho bà số tiền còn nợ 60.000.000 đồng.

Bị đơn bà Đặng Thị Thúy P trình bày: Bà thừa nhận trước đây bà có mượn tiền của bà Hạnh, sau đó bà Hạnh, bà C và bà thỏa thuận là bà nhận nợ từ bà Hạnh sang bà C nên bà có viết giấy nhận nợ cho bà C số tiền 70.000.000 đồng, sau đó bà có trả cho bà C được 10.000.000, đồng. Nay bà thừa nhận có nợ bà C 60.0000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng cho bà C 1.000.000 đồng cho đến hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Đinh Thị C khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị Thúy P trả số tiền nợ, đây là tranh chấp yêu cầu buộc thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đặng Thị Thúy P cư trú tại khu phố Công Thạnh, phường Tam Quan Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Xét yêu cầu và chứng cứ của các bên đương sự:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn trả số tiền 60.000.000 đồng thì thấy rằng: Bà Trần Thị Hạnh ở khu phố Tấn Thạnh 1, phường Hoài Hảo có vay của bà Đinh Thị C số tiền 70.000.000 đồng, do bà Đặng Thị Thúy P có nợ tiền của bà Hạnh nên các bên thỏa thuận bà P sẽ viết giấy nhận nợ bà C thay cho bà Hạnh. Vào ngày 26/12/2017, bà P có viết giấy mượn tiền cho bà C số tiền 70.000.000, đồng. Lúc viết giấy hai bên có thỏa thuận mỗi tháng bà P sẽ trả 2.000.000, đồng, đến ngày 27/6/2018, bà P có trả cho bà C số tiền 10.000.000, đồng. Đến ngày 29/7/2019 (dương lịch) hai bên có viết lại giấy mượn tiền với nội dung bà P có mượn của bà C số tiền 50.000.000, đồng và thỏa thuận mỗi tháng bà P sẽ trả 5.000.000, đồng, ngày 04/12/2019, bà P tiếp viết giấy mượn tiền của bà C số tiền 10.000.000, đồng thỏa thuận đến ngày 20/12/2019, sẽ trả tiền vay cho bà C. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Bà C nhiều lần đòi nợ nhưng bà P không trả là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Nay C yêu cầu bà P trả số tiền nợ 60.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu của bị đơn bà Đặng Thị Thúy P thì thấy rằng: Bà P thừa nhận số tiền nợ bà C kiện bà ra Tòa là do trước đó bà có vay tiền của bà Hạnh, sau đó ba bên thỏa thuận và bà tự nguyện viết giấy nhận nợ cho bà C số tiền 70.000.000 đồng, ngày 27/6/2018 (âm lịch) bà có trả cho bà C được 10.000.000 đồng và có viết lại giấy mượn tiền cho bà C. Do việc làm ăn không thuận lợi nên không có tiền trả cho bà C như đã thỏa thuận. Nay bà thừa nhận có nợ bà C số tiền 60.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Xét thấy số tiền bà Đinh Thị C kiện yêu cầu bà Đặng Thị Thúy P trả là do chuyển quyền yêu cầu từ bà Trần Thị Hạnh. Việc thỏa thuận chuyển quyền yêu cầu giữa bà C và bà Hạnh được bà P đồng ý, bà P tự nguyện viết giấy nhận nợ cho bà C nên việc thỏa thuận giữa các bên là phù hợp với quy định tại Điều 365 của Bộ luật dân sự. Nay bà P đồng ý có nợ bà C số tiền 60.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, với yêu cầu xin trả dần này không được bà C chấp nhận. Do đó cần buộc bà Đặng Thị Thúy P phải trả một lần cho bà Đinh Thị C số tiền 60.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Đặng Thị Thúy P phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho bà Đinh Thị C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 351; 352; 365; 370; 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đinh Thị C;

Buộc bà Đặng Thị Thúy P phải trả số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) cho bà Đinh Thị C.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chậm thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Đặng Thị Thúy P phải chịu 3.000.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa hôm nay được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được quy định theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6 điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ