vanban.org

Bản án 193/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C tỉnh Sóc Trăng giám sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội về giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2020/HS-ST
Ngày 28 – 9 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH,TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phước.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Tất - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 199/2020/TLST-HS, ngày 14 tháng 9 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2019/QĐXX-HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, tên gọi khác không, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1985 tại Sóc Trăng.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim C sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Người bào chữa cho bị cáo Đ: Luật sư TrầnAnh D – Luật sư Công ty Luật TNHHAnh D thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

2. Lê Xuân H, tên gọi khác không, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1991 tại Thanh Hóa.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H, sinh năm 1960 và bà Lê Thị E, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị hại: Anh Lâm Văn N, sinh năm 1970 (đã chết ngày 16/4/2020).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị N, sinh năm 1945.

Địa chỉ: Ấp Kinh ĐứngA, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyệt: Anh Lâm Văn N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp Kinh ĐứngA, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hoàng Lê P.

Địa chỉ: Số 463 Điện Biên P, phường 25, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Sỹ C, chức danh: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Trương Hữu V, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số 33 Lô I, cư xá Phú Lâm D, đường L, Phường B, Quận S, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 05/5/2020).

2. Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N.

Địa chỉ: Số 170/1 Bình G, phường 8, thành phố V, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh T, chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Đức Dũng, sinh năm 1968.

Điạ chỉ: Số 170/1 Bình Giã, phường 8, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/5/2020).

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Đức T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp 5, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Lê Vĩnh T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: ẤpA, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo Đ, bị cáo H có mặt, ông V, ông D, anh T có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Đ có giấy phép lái xe hạng D là lái xe của Công ty CPĐTXD 886 Thành N. Vào sáng ngày 15/04/2020, Đ điều khiển xe ô tô bán tải biển số 72C-053.09 chở anh Lê Vĩnh T ngồi trong xe ô tô, anh Lâm Văn N và anh Phạm Đức T ngồi trên thùng xe, lưu thông hướng từ thành phố Biên Hòa đi thành phố Vũng Tàu để thực hiện việc khoan thăm dò chất lượng nhựa mặt đường Quốc lộ 51 theo hợp đồng giữa Công ty CPĐTXD 886 Thành N và Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến tại Km 37 + 150 Quốc lộ 51 thuộc xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Đ điều khiển xe ô tô dừng lại trên làn đường số 2 ngay tại vị trí cần khoan thăm dò để kiểm tra nhựa mặt đường để anh T và anh N xuống thùng xe làm nhiệm vụ, khi anh T vừa bước xuống, anh N còn đứng trên thùng xe thì lúc này Lê Xuân H có giấy phép lái xe hạng FC, có hợp đồng lao động với công ty TNHH Thương mại dịch vụ vận tải Hg Lê P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-944.65 kéo theo rơ mooc biển số 51R-071.37 lưu thông cùng chiều phía sau di chuyển trên làn đường số 2 đi đến va chạm vào phía sau xe ô tô biển số 72C-053.09 làm anh N ngã đập đầu xuống đường.

Hậu quả: Anh Lâm Văn N bị thương nặng được đưa đến bệnh viện đa khoa Bà Rịa cấp cứu, đến ngày 16/04/2020 thì tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường.

Hiện trường được khám nghiệm trong điều kiện thời trời nắng, không mưa.

Tình trạng hiện trường: Hiện trường còn nguyên vẹn

Hiện trạng của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, mặt đường trải nhựa phẳng, là đường đôi có dải phân cách cứng ở giữa. Chiều đường xảy ra tai nạn là chiều đường hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu có 04 làn đường được phân cách nhau bằng vạch sơn đứt quãng và vạch sơn liền nét. Làn đường rộng lần lượt là 3m50 + 3m50 + 3m50 + 4m00.

Đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Vết phanh bên trái xe ô tô BKS 51C-944.65 và rơ mooc BKS 51R-071.37;

(2) Xe ô tô BKS 51C-944.65 và rơ mooc BKS 51R-071.37;

(3) Xe ô tô BKS 72C-053.09;

Lấy trụ đèn T32-22 ở dải phân cách cứng làm điểm mốc cố định.

Lấy mép đường bên phải theo hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu làm mép đường chuẩn.

Mô tả theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Vết phanh bên trái xe ô tô BKS 51C-944.65 và rơ mooc BKS 51R-071.37: Trên mặt đường của làn đường số 2 của chiều đường hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu còn để lại vết phanh dài 6,70m có chiều hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu. Điểm đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 9,30m.

(2) Xe ô tô BKS 51C-944.65 và rơ mooc BKS 51R-071.37: Xe dừng trên mặt đường của làn đường số 2 chiều đường hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu. Đầu xe hướng về Vũng Tàu, đuôi xe hướng về Biên Hòa,

- Tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô BKS 51C-944.65 cách mép đường chuẩn 7,60m, cách tâm trục bánh sau bên phải xe (3) là 8,00m.

- Tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô BKS 51C-944.65 cách mép đường chuẩn 7,50m;

- Tâm trục bánh sau bên phải rơ mooc BKS 51R-071.37 cách mép đường chuẩn là 7,30m.

(3) Xe ô tô BKS 72C-053.09: Xe dừng trên mặt đường của làn đường số 2 của chiều đường hướng Biên Hòa đi Vũng Tàu. Đầu xe hướng về Vũng Tàu, đuôi xe hướng về Biên Hòa.

- Tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 7,90m.

- Tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 7,70m.

- Đo từ tâm trục bánh trước bên trái đến điểm mốc cố định về hướng Vũng Tàu là 12,40m.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 137/GĐHS/2020 ngày 27/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận Lâm Văn N:

1. Dấu vết chính qua giám định hồ sơ bệnh án và tài liệu hiện có:

- Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/4/2020, nạn nhân Lâm Văn N đứng phía sau xe ô tô bị xe ô tô khác tông gây tai nạn giao thông.

- Tổn thương chính: Bầm tím da đầu chẩm phải. Trầy da vùng trước vai trái. Trầy xước da các ngón chân bàn chân trái. Vết thương ngón 2 bàn chân phải. Máu tụ dưới màng cứng. Dập não bán cầu trái. Máu tụ ngoài màng cứng. Nứt sọ thái dương phải.

2. Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định:

- Nguyên nhân tử vong của Lâm Văn N – sinh 1970 do chấn thương sọ não nặng hậu quả của tai nạn giao thông gây: Máu tụ dưới màng cứng. Dập não bán cầu trái. Máu tụ ngoài màng cứng. Nứt sọ thái dương phải.

- Kết quả nồng độ cồn trong máu: 1.3424g/L.

Tại bản kết luận giám định số 2581/C09B ngày 19/5/2020 của Phân viện KTHS tại TP Hồ Chí Minh kết luận:

1. Dấu vết trượt xước, biến dạng bám chất màu đen mặt ngoài các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 51C-944.65 kéo rơ mooc biển số 51R-07137 (cản trước, biển số, lưới tản nhiệt) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, biến dạng mặt ngoài các chi tiết phía sau xe ô tô biển số 72C-05309 (bậc lên xuống thùng xe, cản sau, nắp thùng xe, cụm đèn hậu) có chiều từ sau về trước.

2. Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết và các tài liệu kèm theo xác định: Khi va chạm, xe ô tô biển số 72C-05309 ở trạng thái dừng trên Quốc lộ 51 hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu; xe ô tô biển số 51C-944.65 kéo rơ mooc biển số 51R-07137 chuyển động cùng chiều phía sau.

3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa các phương tiện nêu trên với vật hoặc phương tiện khác.

Tại cáo trạng số 208/CT -VKSLT , ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Lê Xuân H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Lê Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù, xử phạt bị cáo Lê Xuân H mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách đối với các bị cáo từ 32 tháng đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa gia đình các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại giấy phép lái xe hạng A1, FC cho Lê Xuân H và giấy phép lái xe hạng A2, D cho Nguyễn Văn Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận: Bị cáo điều khiển xe ô tô bán tải biển số 72C-05309 của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N chở anh Lê Vĩnh T, anh Lâm Văn N và anh Phạm Đức T để thực hiện khoan thăm dò chất lượng nhựa mặt đường quốc lộ 51, khi đi đến đoạn đường thuộc xã Phước Thái, bị cáo cho xe dừng lại để anh T, anh N và anh T xuống làm nhiệm vụ trên làn đường số 2, quốc lộ 51 thì xe của anh H đi phía sau không chú ý quan sát đã tông vào thùng xe của bị cáo làm anh N ngã xuống đường và tử vong. Bị cáo nhận thấy, anh N bị tai nạn chết có một phần lỗi của bị cáo dừng đỗ xe không đúng quy định, hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Xuân H khai nhận: Bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo 51C-944.65, kéo theo rơ mooc biển số 51R-071.37 đang lưu thông trên làm đường số 2 quốc lột 51, đoạn xã P, huyện L hướng đi từ Biên Hòa đi Vũng Tàu, bị cáo đang cho xe lưu thông trên làn đường số 2, nghĩ làn đường này chỉ có xe chạy cùng chiều, do buồn ngủ nên bị cáo nhìn qua nhìn lại, khi bị cáo nhìn thẳng thì có xe đang dừng trước mặt rất gần xe của bị cáo, bị cáo phanh xe lại nhưng không kịp nên đã va chạm vào xe ô tô của anh Đ điều khiển, làm anh N ngồi trên thùng xe ngã xuống đường rồi tử vong. Bị cáo xác định anh N chết là do có một phần lỗi của bị cáo không chú ý quan sát để xảy ra tai nạn.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Lê Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo quy định tại theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ vi phạm quy đinh tại điểm b khoản 3 Điều 18, bị cáo Lê Xuân H vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ.

Đối với bị cáo Đ khi điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo phải tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đường bộ, chỉ được đỗ, dừng xe đúng quy định nhưng bị cáo cho xe dừng ngay tại làn đường số 2, quốc lộ 51 chưa cắm được biển báo thì có xe ô tô đi phía sau không tránh kịp đã va chạm vào xe ô tô của bị cáo điểu khiển, làm anh Lâm Văn N ngồi phía sau thùng xe té xuống đường dẫn đến tử vong. Đối với bị cáo H điều khiển xe đi trên đường không chú ý quan sát, giữ khoảng cách nên khi có xe dừng trên đường bị cáo không kịp cho xe của mình tránh để xảy ra tai nạn. Như vậy, bị cáo Đ và bị cáo H phải chịu trách trách nhiệm hình sự về hành vi gây thiệt hại về tính mạng của người khác.

Trong vụ án này, bị cáo Đ và bị cáo H đều có lỗi nhưng nguyên nhân chính gây ra cái chết của bị hại là do bị cáo H không quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên cần phải xem xét, cân nhắc xử phạt bị cáo H mức án cao hơn bị cáo Đ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ai yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xét.

Tại phiên tòa, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N trình bày về thiệt hại do xe ô tô của Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hoàng Lê P gây ra nhưng có yêu cầu khởi kiện bằng vụ án khác khi có đủ hóa đơn, chứng từ sửa chữa xe. Vì vậy, giành quyền khởi kiện cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N đối với Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hoàng Lê P bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành có thu giữ của bị cáo Lê Xuân H giấy phép lái xe hạng A1, FC và thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ giấy phép lái xe hạng A2, D về phần dân sự đã giải quyết xong nên trả lại cho các bị cáo.

Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Văn Đ và Lê Xuân H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của Luật sư Trần Anh D bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Luật sư thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Đ, nhưng Viện kiểm sát đề nghị mức án mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho cho hưởng án treo là nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đ bằng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo. Ý kiến đề nghị của luật sư phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

Giành quyền khởi kiện cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N đối với Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hoàng Lê P bằng vụ án khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn Đ số 770132000400 và trả lại cho bị cáo Lê Xuân H 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Xuân H số 790145861630.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo Lê Xuân H, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 886 Thành N và Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hoàng Lê P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại bà Võ Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ