- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dũng - Trân"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Tiến D được ly hôn với chị Thạch Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 193/2020/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2020 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng.
Ông Huỳnh Văn Năm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 803/2019/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 135/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Tiến D, sinh năm 1989; cư trú tại ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Thạch Thị T, sinh năm 1992; cư trú tại ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của anh Lê Tiến D trình bày: Anh và chị Thạch Thị T tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Mâu thuẫn chủ yếu là do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến vợ chồng không còn yêu thương và ngày càng trầm trọng không tự giải quyết được. Hiện tại, anh chị sống riêng từ năm 2015 đến nay, xét thấy không đảm bảo hạnh phúc nên anh yêu cầu ly hôn với chị T.
Về con chung của anh và chị T gồm có một người tên Lê Thị Diễm Tr, sinh ngày 09/6/2011 đang ở cùng anh, sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Thạch Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.
Đối với Lê Thị Diễm Tr là con chung của anh D và chị T có nguyện vọng ở cùng anh D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng để xem xét giải quyết nhưng do chị Thạch Thị T không có cư trú, sinh sống tại thị xã V và nơi cứ trú của chị T được xác định theo địa chỉ của nguyên đơn khởi kiện nên hồ sơ vụ án được chuyển lại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời giải quyết và việc Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Anh Lê Tiến D có yêu cầu vắng mặt, chị Thạch Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D và chị T.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa Lê Tiến D và chị Thạch Thị T được xác lập vào năm 2010 có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất đồng quan điểm, lối sống, sinh hoạt dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc và tự sống riêng với nhau. Thời gian ngày càng kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Mặt khác, bản chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt điều đó cho thấy chị T không có thiện chí để hàn gắn. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của anh D được ly hôn với chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, anh D và chị T có một người con chung hiện đang ở cùng anh D và vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, con chung của anh chị có nguyện vọng ở cùng anh D trong khi đó chị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì về phần con chung của anh chị khi ly hôn. Để không làm xáo trộn môi trường sống và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh D nuôi theo nguyện vọng của con là phù hợp. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Chị T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
Về án phí: Anh Lê Tiến D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; phần tạm ứng án phí anh D đã nộp được khấu trừ.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Tiến D được ly hôn với chị Thạch Thị T.
Về nuôi con chung: Anh Lê Tiến D được quyền nuôi con tên Lê Thị Diễm Tr, sinh ngày 09/6/2011 đang ở cùng anh. Phần cấp dưỡng đương sự không đặt ra yêu cầu.
Chị T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh D.
Vì lợi ích của con chưa thành niên nên chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh D có quyền yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch Lê Tiến D phải chịu 300.000 đồng, anh D đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002549 ngày 15/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.
Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - UBND xã P, huyện T; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |