vanban.org

Bản án 193/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Ngô Huỳnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Ngô Huỳnh Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-4-2018. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 302/GĐKTHS và 01 cóng thủy tinh. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và 01 đồng hồ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Vậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Huỳnh Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Ngô Huỳnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2018/HSST
Ngày: 29-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quỹ

Bà Trần Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại Nhà văn hóa Thượng Lỗi 2, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2018/QĐ-HSST ngày 19-6-2018 đối với bị cáo:

Ngô Huỳnh Đ - sinh năm 1996 tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 2B tập thể T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số 19/181 đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Xuân T và bà Nguyễn Thị K; Có 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26-6-2013 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, ngày 07-4-2016 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm tuyên miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-4-2018 (có mặt).

Người làm chứng: anh Lã Anh D, anh Đặng Tuấn Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02-4-2018, Tổ công tác đội cảnh sát trật tự - Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 104 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Trần Quang Khải, thành phố Nam Định phát hiện Ngô Huỳnh Đ điều khiển xe máy không có biển kiểm soát chở sau là Uông Sỹ Q có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra thu giữ trong cốp xe 01 cóng thủy tinh va 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Đ khai là ma túy đá). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa Đ và người làm chứng về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng và 01 xe máy không có biển kiểm soát.

Bản kết luận giám định số 302/GĐKTHS ngày 06-4-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Ngô Huỳnh Đ niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine có khối lượng mẫu 0,240gam.

Tại cơ quan điều tra, Ngô Huỳnh Đ khai nhận hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng và khai nhận nguồn gốc túi ma túy trên như sau: Khoảng 20 giờ ngày 01-4-2018, Đức nhận điện thoại của A (bạn ngoài xã hội) rủ đến nhà trọ ở khu vực đường Lương Văn Can, thành phố Nam Định để sử dụng ma túy đá. Đ đồng ý và điều khiển xe máy không có biển kiểm soát đến nơi A thuê trọ (Đ không nhớ vị trí chính xác) cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, A cho Đ 01 cóng thủy tinh và 01 túi ma túy đá, Đ cầm cất vào túi quần bên phải đang mặc và đi về. Đến khoảng 11 giờ ngày 02-4-2018, Đ lấy túi ma túy và cóng thủy tinh trên cất vào cốp xe máy không có biển kiểm soát rồi đi đến đầu ngõ 122 đường Thái Bình đón Uông Sỹ Q (bạn của Đ) đi chơi thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Đối với Uông Sỹ Q, Q khai nhận không biết việc Đ tàng trữ trái phép chất ma túy trong cốp xe của Đ. Do Q không biết việc Đ tàng trữ ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định không có hình thức xử lý.

Đối với đối tượng đã cung cấp ma túy cho Đ và xe máy không có biển kiểm soát tạm giữ của Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Địn chưa đủ căn cứ kết luận nên tách ra điều tra, xử lý sau.

Bản cáo trạng số 195/CT-VKSTPNĐ ngày 12-6-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Ngô Huỳnh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 302/GĐKTH ngày 06-4-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02-4-2018, tại khu vực trước cửa số nhà 104 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Trần Quang Khải, thành phố Nam Định, Ngô Huỳnh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,240gam Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm kiếm lời bất chính; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 cóng thủy tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động và 01 đồng hồ thu giữ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Bị cáo Ngô Huỳnh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố Ngô Huỳnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Ngô Huỳnh Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-4-2018.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 302/GĐKTHS và 01 cóng thủy tinh. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và 01 đồng hồ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-6-2018)

3. Án phí: Bị cáo Ngô Huỳnh Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Huỳnh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.

Cỡ chữ