vanban.org

Bản án 193/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Giàng A C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18/5/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2018/HS-ST
Ngày 28/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiện và ông Lò Việt Huấn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2018/HSST ngày 10/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2018/QĐXXST-HS ngày 16/8/2018 đối với bị cáo:

Giàng A C, sinh năm 1972 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A N và bà Sồng Thị V (đều đã chết); bị cáo có vợ là Sùng Thị N và 05 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2018 đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: Vì Văn T, Lò Văn T. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18 tháng 5 năm 2018, Lò Văn T (Sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản N 1, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La) và Vì Văn T2 (Sinh năm 1980; nơi cư trú: Bản N 2, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La) gặp nhau tại khu vực sân bóng thuộc bản C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La, T1 rủ T2 đi mua ma túy về sử dụng chung, T2 đồng ý. T1 và T2 đi đến nhà Giàng A C tại bản C, xã Đ, gặp C đang ở nhà một mình. T1 hỏi C có Heroine bán không nhưng C không có, T1 nhờ C mua hộ Heroine. T1 đưa cho Của 130.000 đồng và bảo đi mua 100.000 đồng Heroine, còn 30.000 đồng là trả công cho C. C đồng ý, cầm tiền đi bộ đến sân bóng thuộc bản C, xã Đ thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, C đã hỏi mua được của người phụ nữ đó 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng đều được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng. C mang về cho T1, T1 nhận 02 gói Heroine rồi cùng T2 đi về. Khi T1 và T2 đến nương mận thuộc bản Áng 1, xã Đ, huyện M thì cả hai rủ nhau lấy 02 gói Heroine ra sử dụng. Khi T1 và T2 vừa sử dụng hết Heroine thì tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính. Thu giữ một chiếc bật lửa ga màu đỏ, một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và hai mảnh nilon màu trắng.

Ngày 18/5/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong T2 hợp khẩn cấp đối với Giàng A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quá trình bắt giữ Giàng A C đã thu giữ số tiền 30.000 đồng. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Lò Văn T1, Vì Văn T2, Giàng A C đều dương tính với ma túy.

Đối với người bán ma túy cho Giàng A C do C không nhớ họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn T1 và Vì Văn T2, ngày 10/7/2018, Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Bản cáo trạng số 154/CT-VKSMC ngày 10/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Giàng A C về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A C từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) thu giữ của Giàng A C.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ gói niêm phong ban đầu (trong phong bì niêm phong số tiền 30.000 đồng); 01 phong bì niêm phong bên trong đựng một chiếc bật lửa ga màu đỏ, hai mảnh nilon màu trắng, một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Giàng A C; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn T1; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Vì Văn T2.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, Giàng A C giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản vi phạm hành chính lập ngày 18/5/2018, lời khai của Lò Văn T1 và Vì Văn T2, lời khai của người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ, kết quả xét nghiệm ma túy đối với Lò Văn T1, Vì Văn T2, Giàng A C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 18/5/2018, bị cáo Giàng A C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Lò Văn T1 và Vì Văn T2 sử dụng, Giàng A C thu lợi được 30.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.

Bị cáo T1 khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên toà thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 30.000 đồng thu giữ của Giàng A C là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các vật chứng gồm: 01 vỏ gói niêm phong ban đầu (trong phong bì niêm phong số tiền 30.000 đồng); 01 phong bì niêm phong bên trong đựng một bật lửa ga màu đỏ, hai mảnh nilon màu trắng, một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Giàng A C; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn T1; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Vì Văn T2. Xét là đồ vật sử dụng chất ma túy, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm giam bị cáo còn lại dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Giàng A C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18/5/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) thu giữ của Giàng A C.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ gói niêm phong ban đầu (trong phong bì niêm phong số tiền 30.000 đồng); 01 phong bì niêm phong bên trong đựng một bật lửa ga màu đỏ, hai mảnh nilon màu trắng, một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Giàng A C; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn T1; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Vì Văn T2.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Giàng A C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ