- Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 193/2018/HS-ST Ngày 27 - 6 -2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lân
Ông Ngô T Xuân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203 /2018/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208 /2018/ QĐXXST-HS ngày 11 /6 /2018 đối với bị cáo:
KIỀU VĂN T – sinh năm: 1969 tại Hà Nội; HKTT: Thôn B– xã L – Mê Linh – Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tự do; con ông Kiều Văn C và bà Nguyễn Thị D (Chết); Vợ: Phạm Thị H; Có 02 con: con lớn SN 1995, nhỏ SN 1997; Nhân thân: Theo danh chỉ bản số 247 ngày 05/4/2018 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự (đã được xóa):
- Bản án số 62/HSST ngày 31/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 08/5/2009. Ra trại ngày 08/4/2011. Nộp án phí ngày 14/4/2010.
- Năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm số 03 Sóc Sơn, Hà Nội
Bị cáo bị bắt ngày 04- 4 -2018. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1958 HKTT: Số A, N,T, TP Nam Định, Nam Định (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Đức Thịnh – sinh năm: 1989 HKTT: Số A, N,T, TP Nam Định, Nam Định(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14h30’ ngày 04/4/2018, tổ công tác công an phường Thạch Bàn, quận Long Biên làm nhiệm vụ tại khu vực trước cây xăng Đ quốc lộ 1B – phường Phúc Lợi – Long Biên – Hà Nội phát hiện bắt quả tang Kiều Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy Heroine), 01 xe máy Honda Wave RS màu đỏ đen, BKS: 18E2 – 7944.
Bản kết luận giám định số 3403 ngày 11/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,251 gam.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiều Văn T khai nhận:
Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 14h ngày 04/4/2018, T điều khiển xe máy Honda Wave RS màu đỏ đen đi từ nơi T làm việc tại thôn Cam xã Cổ Bi – Gia Lâm – Hà Nội lên khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh để tìm mua ma túy cho bản thân. Tại đây, T hỏi người đi Đ và đến một căn nhà đóng kín cửa (T không nhớ địa chỉ) để mua ma túy. Sau đó T nói qua khe cửa để hỏi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng rồi cầm tiền đút qua khe cửa. Người bên trong cầm tiền rồi đưa cho T 01 gói giấy bạc màu vàng. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về. Khi T đi đến khu vực trước cửa cây xăng Đ quốc lộ 1B thuộc địa phận phường Phúc Lợi – Long Biên thì bị cơ quan công an kiểm tra. Do hoảng sợ T đã bỏ gói ma túy đang cầm trong tay xuống đất nhưng bị cơ quan công an phát hiện thu giữ. Tại chỗ T khai nhận đó là gói ma túy T vừa mua để sử dụng cho bản thân.Cơ quan công an lập biên bản niêm phong tang vật rồi đưa T cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Bản cáo trạng số: 167/CT-VKS ngày 06 - 6 -2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Kiều Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Kiều Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS 2015 và Điều 106 của BLTTHS.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 20 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,251 gam Heroine.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14h30’ ngày 04/4/2018, tại địa phận phường Phúc Lợi – Long Biên – Hà Nội, bị cáo Kiều Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,251 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Thạch Bàn, quận Long Biên phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo Kiều Văn T đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng TNHS:
Nhân thân của bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự đều liên quan đến ma túy: Bản án số 62/HSST ngày 31/8/2009 - Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy; năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm 03 Sóc Sơn. Theo luật định các tiền án và tiền sự trên của bị cáo đã được xóa nhưng bị cáo vẫn bị coi là có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy, mại dâm ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ và nhân thân của bị cáo thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,251 gam Heroine thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành.
- Đối với chiếc xe máy Honda RS màu đỏ đen, BKS 18E2 – 7944 tạm giữ của T , kết quả điều tra xác định: T mượn xe máy của ông Nguyễn Văn Đ là ban cùng làm. Xe máy đăng ký mang tên anh Nguyễn Đức Thịnh, là con trai ông Đ . Kết quả tra cứu xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ông Đ khai khi cho mượn không biết việc T dùng làm phương tiện đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT –Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Đức Thịnh là có căn cứ. Anh Thịnh đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
- Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng đã bán trái phép ma túy cho Kiều Văn T , do T khai không biết là ai, không nhớ ngôi nhà T đến mua ma túy ở địa điểm nào, vì vậy cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Kiều Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015
Xử phạt: Kiều Văn T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04 - 4 -2018.
Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền cho bị cáo
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,251 gam Heroine (Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 04/5/2018).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trực tiếp về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
| Nơi nhận - TANDTP.Hà Nội; - VKSNDTP.Hà Nội; - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Công an quận Long Biên; - Chi cục THA. DS quận Long Biên; - Cơ quan THA.HS quận Long Biên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Mai Hoa |