- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 193/2017/HSST Ngày: 16/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé.
2. Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trần Đức Sơn – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2017/HSST, ngày 23 tháng 10 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2017/HSST-QĐ ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:
A, sinh năm 1986, tại huyện Củ Chi; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông B và bà C; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2017 đến ngày 29/6/2017 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo bị nghiện ma túy từ năm 2009. Năm 2013, bị cáo bị bắt đưa đi cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện Nhị Xuân, thuộc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2015 bị cáo về địa phương sinh sống. Tháng 01/2017, bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy. Bị cáo đã nhiều lần đi bằng phương tiện xe buýt, xe ôm đến ngã tư An Sương, thuộc Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy sử dụng. Ngày 28/6/2017, bị cáo gọi điện thoại cho thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 2.100.000 đồng ma túy loại heroin và hẹn địa điểm giao nhận thuộc khu vực ấp 8, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi. Bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 59Y2-050.23 đến nơi hẹn, người thanh niên đi bộ đến giao cho bị cáo 01 gói ma túy và 03 tép ma túy, bị cáo trả 2.100.000 đồng. Bị cáo điều khiển xe gắn máy về đến khu vực ấp Hậu, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi thì bị Công an bắt quả tang. Công an thu giữ vật chứng gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 chiếc xe gắn máy biển số 59Y2-050.23, 01 gói nylon chứa 02 cục chất bột màu trắng và 03 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất bột màu trắng. Khám xét nơi ở của bị cáo, Công an thu giữ 03 ống kim tiêm (02 ống chưa qua sử dụng, 01 ống đã sử dụng) và 07 ống nước cất (06 ống chưa sử dụng, 01 ống đã sử dụng).
Tại bản kết luận giám định số 1150/KLGĐ-H ngày 14/7/2017 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói niêm phong có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên A và hình dấu Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi gửi đến giám định, bên trong gồm:
+ Chất bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6926g (ba phẩy sáu chín hai sáu gam), loại Heroin.
+ Chất bột màu trắng trong 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng đựng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1105g (không phẩy một một không năm gam), loại Heroin.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 160/CTr-VKS-HS ngày 17/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi mua, tàng trữ trái phép 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6926g, loại Heroin và 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1105g, loại Heroin để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; Áp dụng Khoản 3 Điều 7 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo A từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1150/2017 do Giám định viên Trần Đình Hải ký tên vào gói niêm phong, 03 ống kim tiêm (02 ống chưa qua sử dụng, 01 ống đã sử dụng) và 07 ống nước cất (06 ống chưa sử dụng, 01 ống đã sử dụng); tịch thu sung vào quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng.
Bị cáo A không tranh luận, không tự bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi mua, tàng trữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,8034g, loại Heroin để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điểm b, d Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và Khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt hành vi phạm tội của bị cáo A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.
Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 1150/2017 do Giám định viên Trần Đình Hải ký tên vào gói niêm phong là vật cấm lưu hành Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng là phương tiện bị cáo sử dụng để mua ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào quỹ Nhà nước.
- 03 ống kim tiêm (02 ống chưa qua sử dụng, 01 ống đã sử dụng) và 07 ống nước cất (06 ống chưa sử dụng, 01 ống đã sử dụng) là công cụ bị cáo sử dụng ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe gắn máy biển số 59Y2-050.23 của ông B, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy ông Tý không biết. Ông B xin nhận lại xe, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi trả lại xe ngày 10/7/2017 (BL45) là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và Tòa án nhân dân huyện Củ Chi loại trừ ra khỏi vụ án, làm rõ xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án”, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm b, d Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội;
- Áp dụng Khoản 3 Điều 7 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/6/2017 đến ngày 29/6/2017.
- Áp dụng Khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1150/2017 do Giám định viên Trần Đình Hải ký tên vào gói niêm phong, 03 ống kim tiêm (02 ống chưa qua sử dụng, 01 ống đã sử dụng) và 07 ống nước cất (06 ống chưa sử dụng, 01 ống đã sử dụng).
+ Tịch thu sung vào quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng.
Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 58/PNK ngày 16/8/2017 (BL24) của Công an huyện Củ Chi.
- Áp dụng Khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Phòng PC 27; - Bị cáo; - Lưu: Vp, hồ sơ. (20b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Thắm |