- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Hậu - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Hậu phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 192/2025/HS-ST Ngày: 02/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Huỳnh Phi Hổ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh- Thư ký TAND thành phố Biên Hoà.
- Đại diện VKSND thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở TAND thành phố Biên Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 187/2025/QĐST-HS ngày 26/02/2025, Thông báo dời thời gian mở phiên toà xét xử vụ án số 215/TB-TA ngày 24/3/2025 đối với bị cáo:
Vũ Văn Hậu, tên gọi khác: Không, sinh năm 1990 tại Hải Dương. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: KDC An Thủy, phường Hiến Thành, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Nơi tạm trú: Khu 4, ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Vũ Văn Kích, sinh năm 1961. Con bà: Nguyễn Thị Hoạt, sinh năm 1963. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ là Lê Thị Hiền, sinh năm 1988 và 03 con sinh năm 2012, 2014, 2020.
Tiền án: Ngày 06/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 16 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Đại Quan, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Ấp Thanh Bình, xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Tổ 11, khu 4, ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng
mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên từ tháng 9/2023, Vũ Văn Hậu đã liên hệ với những người quen biết trong khu vực phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành để cho vay tiền với mức lãi suất từ 30%/tháng đến 60%/tháng và thu lợi bất chính. Hậu cho vay tiền với 02 hình thức là thu tiền lãi hàng ngày hoặc trả góp hàng ngày cả gốc và lãi. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa xác định từ tháng 9/2023 đến ngày 15/9/2024, Vũ Văn Hậu đã bỏ ra số tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để cho 02 người vay tiền trong 06 lần cho vay với lãi suất cao và thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
1. Ngày 01/9/2023, Hậu cho ông Lê Đại Quan, ngụ tại ấp Thanh Bình, xã Lộc An, huyện Long Thành (ông Quan bán tạp hóa tại tổ 32, khu phố Long Đức 1, phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa) vay lần 01 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với tiền lãi mỗi ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tương đương với lãi suất 30%/tháng. Ông Quan đã trả tiền lãi cho Hậu từ ngày 01/9/2023 đến ngày 02/6/2024 là 276 ngày với tổng tiền lãi 138.000.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu đồng) và chưa trả tiền gốc. Đến ngày 03/6/2024, ông Quan tiếp tục vay của Hậu lần 02 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nên Hậu cộng dồn với tiền gốc 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) của lần vay 01 thành khoản vay mới là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và xem như khoản vay lần 01 đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hậu được hưởng trong 276 ngày là 7.681.908 đồng (Bảy triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn chín trăm lẻ tám đồng), số tiền thu lợi bất chính là 130.318.092 đồng (Một trăm ba mươi triệu ba trăm mười tám nghìn không trăm chín mươi hai đồng).
+ Ngày 03/6/2024, Hậu cho ông Quan vay lần 02 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và Hậu cộng dồn với tiền gốc 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) ông Quan còn nợ của lần vay 01 thành khoản vay mới là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) với tiền lãi mỗi ngày 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), tương đương với lãi suất 30%/tháng. Ông Quan đã trả tiên lãi cho Hậu được 103 ngày với tổng số tiền 82.400.000 đồng (Tám mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) thì Hậu bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa bắt giữ nên ông Quan vẫn còn nợ Hậu 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) tiền gốc. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hậu được hưởng trong 103 ngày là 4.586.899 đông (Bốn triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm chín mươi chín đồng), số tiền thu lợi bất chính là 77.813.101 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm mười ba nghìn một trăm lẻ một đồng).
2. Ngày 29/7/2024, Hậu cho bà Nguyễn Thị Tuyết, ngụ tại tổ 11, khu 4, ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành vay lần 1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với hình thức trả góp hàng ngày. Tổng số tiền bà Tuyết phải trả cả gốc và lãi là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) và mỗi ngày bà Tuyết phải đóng tiền trả góp 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) trong vòng 10 ngày tương đương với lãi suất 60%/tháng, khoản vay này bà Tuyết đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hậu được hưởng trong 10 ngày là 55.666 đồng (Năm mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.944.334 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng).
- Ngày 08/8/2024, Hậu cho bà Tuyết vay lần 02 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với hình thức trả góp hàng ngày. Tổng số tiền bà Tuyết phải trả cả gốc và lãi là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng) và mỗi ngày bà Tuyết phải đóng tiền trả góp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trong vòng 18 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng và bà Tuyết đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hậu được hưởng trong 18 ngày là 300.600 đồng (Ba trăm nghìn sáu trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.699.400 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm đồng).
- Ngày 26/8/2024, Hậu cho bà Tuyết vay lần 03 số tiền 30.000.000 đồng
(Ba mươi triệu đồng) với lãi suất và cách thức trả góp như lần 02. Khoản vay này bà Tuyết đã trả xong trong 18 ngày. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hậu được hưởng trong 18 ngày là 300.600 đồng (Ba trăm nghìn sáu trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.699.400 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm đồng).
- Ngày 13/9/2024, Hậu cho bà Tuyết vay lần 04 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất và cách thức trả góp như lần 02. Tuy nhiên, khoản vay này bà Tuyết mới trả góp được 02 ngày với tổng số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) thì Hậu bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa bắt giữ nên bà Tuyết còn nợ Hậu 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hậu nhằm đạt được là 5.699.400 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm đồng) nhưng chưa kịp thu lợi.
Ngày 15/9/2024, Công an phường Tam Phước kiểm tra hành chính phòng trọ của Vũ Văn Hậu tại tổ 7, khu phố Long Đức 1, phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa thì phát hiện Hậu có hành vi cho vay lài nặng nên đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phô Biên Hòa điêu tra, xác minh. Ngày 15/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã bắt, tạm giữ Vũ Văn Hậu để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra đã xác định Vũ Văn Hậu đã cho ông Lê Đại Quan và bà Nguyễn Thị Tuyết vay tiền trong 06 lần vay với lãi suất từ 30%/tháng đến 60%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định theo Bộ luật dân sự. Số tiền gốc Vũ Văn Hậu sử dụng để cho vay là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và số tiền Vũ Văn Hậu nhằm thu lợi bất chính là 227.173.727 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu một trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng). Tuy nhiên, Vũ Văn Hậu mới thu lợi bất chính được 221.474.327 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng) thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý.
Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 353095100165136 (bị vỡ màn hình) của bị cáo Vũ Văn Hậu sử dụng vào việc phạm tội.
Tại cáo trạng số 57/CT-VKSBH-HS ngày 07/01/2025 truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tại phiên tòa:
Về quan điểm truy tố, tội danh, hình phạt đối với các bị cáo:
1. Về quan điểm truy tố, tội danh:
- Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Văn Hậu về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo tái phạm thuộc điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự).
- Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn Hậu 01 năm 04 tháng tù giam – 01 năm 08 tháng tù giam tổng hợp với hình phạt cải tạo không giam giữ 16 tháng quy đổi thành ngày tù của bản án 11/2023/HSST ngày 06/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật đối với bị cáo như: bị cáo đã nhận Kết luận điều tra, Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Từ tháng 9/2023 đến ngày 15/9/2024, Vũ Văn Hậu đã có hành vi cho 02 người vay tiền trong 06 lần vay với mức lãi suất từ 30%/tháng đến 60%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự để nhằm thu lợi bất chính 227.173.727 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu một trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng). Số tiền Vũ Văn Hậu sử dụng để cho vay là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và số tiền thu lợi bất chính thực tế đã chiếm đoạt được là 221.474.327 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Văn Hậu đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà đã viện dẫn và truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng khi cho vay với lãi suất vượt quá mức quy định của Pháp luật. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền lợi của người vay mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự kinh tế và an toàn xã hội nên cần áp dụng hình phạt thích đáng để răn đe và phòng ngừa chung.
3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo tái phạm thuộc điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
3.3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
3.4 Tại bản án số: 11/2023/HSST ngày 06/2/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt bị cáo 16 tháng cải tạo không giam giữ, tại bản án này bị cáo đã thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 23/4/2024, tính đến ngày bị cáo bị bắt trong vụ án này ngày 15/9/2024 thì bị cáo mới thi hành được 04 tháng 22 ngày. Thời hạn còn lại của bản án mà bị cáo chưa thi hành là 09 tháng 08 ngày = 288 ngày (một ngày tù bằng 3 ngày cải tạo không giam giữ). Do vậy hình phạt còn lại của bị cáo tại bản án số 11/2024/HSST ngày 06/3/2023 là 288:3 = 96 ngày (03 tháng 06 ngày). Tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án này buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là phù hợp với hành vi, tính chất mức độ của bị cáo đã thực hiện.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải nộp lại 25.611.941 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm mười một nghìn chín trăm bốn mươi mốt đồng) là số tiền lãi tương ứng 20%/năm phát sinh từ hành vi phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải trả lại cho ông Lê Đại Quan 208.131.193 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu một trăm ba mươi mốt nghìn một trăm chín mươi ba đồng) là tiền đã thu lợi bất chính của ông Quan.
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết 13.343.134 đồng (Mười ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn một trăm ba mươi bốn đồng) là tiền đã thu lợi bất chính của bà Tuyết.
- Buộc ông Lê Đại Quan phải nộp lại 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) là phương tiện bị can Vũ Văn Hậu sử dụng vào việc phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết phải nộp lại 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) là phương tiện bị can Vũ Văn Hậu sử dụng vào việc phạm tội để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 353095100165136 (bị vỡ màn hình) của bị cáo Vũ Văn Hậu sử dụng vào việc phạm tội.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Hậu phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1. Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 96 ngày (03 tháng 06 ngày) còn lại của bản án 11/2023/HSST ngày 06/202023 của Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bom. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01(một) năm 07 (bảy) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.
2. Về dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 353095100165136 (bị vỡ màn hình) của bị cáo Vũ Văn Hậu sử dụng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà)
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải nộp lại 25.611.941 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm mười một nghìn chín trăm bốn mươi mốt đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải trả lại cho ông Lê Đại Quan 208.131.193 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu một trăm ba mươi mốt nghìn một trăm chín mươi ba đồng).
Buộc bị cáo Vũ Văn Hậu phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết 13.343.134 đồng (Mười ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn một trăm ba mươi bốn đồng).
- Buộc ông Lê Đại Quan phải nộp lại 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết phải nộp lại 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vũ Văn hậu phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an tp.Biên Hoà; - Chi cục THADS tp. Biên Hoà; - Bị cáo – Phân trại tạm giam - Thi hành án hình sự; - Bị hại; - Lưu (3). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Hà Vân |