vanban.org

Bản án 192/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V ội danh à h nh phạ :

Xử phạt bị cáo Quàng Văn D 15 (mười lăm tháng t . Thời hạn t tính t ngày b t tạm gi , tạm giam (ngày 18/6/2024). Không áp dụng hình phạt b sung (Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? V ội danh à h nh phạ :
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hu; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/HS-ST
Ngày 20 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lường Văn Duôi.

2. Ông Hoàng Trung Trọng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 09/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 4 năm 2006 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư tr : Bản P, xã TC1, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn T, sinh năm 1987 và bà Lò Thị C, sinh năm 1986; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 18/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/6/2024, Quàng Văn D đi bộ một mình t nhà bản P, xã TC, huyện TC đến x TL, huyện TC để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến khu vực bản H, xã TC, huyện TC thì Quàng Văn D gặp một người thanh niên dân tộc Thái (D không biết tên, tu i và địa chỉ cụ thể ở đâu . Khi gặp nhau D đ hỏi mua được của người thanh niên một gói nilon màu hồng bên trong chứa ma t y t ng hợp với giá 300.000 đồng, sau khi mua được ma túy Quàng Văn D cất gói ma t y vào t i quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi tìm địa điểm để sử dụng. Khi Quàng Văn D đi đến khu vực bản B, xã TL, huyện TC thì gặp t công tác Công an x TL, huyện TC yêu cầu kiểm tra ma t y. Quá trình kiểm tra t công tác phát hiện gói ma t y ở t i quần phía trước bên phải D đang mặc. Sau đó t công tác đ tiến hành đưa Quàng Văn D về trụ sở UBND x TL, huyện TC để lập biên bản b t người phạm tội quả tang, cùng với vật chứng thu gi .

Hồi 18 giờ 00 ph t ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện TC phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu gi của Quàng Văn D có kết quả: Chất bột cục màu hồng nghi là ma t y t ng hợp thu gi của Quàng Văn D có khối lượng 0,27 gam, trích toàn bộ 0,27 gam ký hiệu D1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số: 1317/KL -KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

Mẫu ký hiệu D1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine, có tên khoa học là Diacetylmonrphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,27 gam.

Tổng khối lượng ma tuý thu gi của Quàng Văn D là 0,27 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmonrphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng h t trong quá trình giám định.

Tại bản Cáo trạng số 152/CT- VKS TC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đ truy tố bị cáo Quàng Văn D về tội Tàng tr trái phép chất ma t y theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn D đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đ truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng tr trái phép chất ma t y là đ ng người, đ ng tội, không oan sai cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn D phạm tội Tàng tr trái phép chất ma t y.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn D t 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám tháng tù.

Không áp dụng hình phạt b sung (phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn D.

Tại phần tranh luận, bị cáo Quàng Văn D th a nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đ ng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không b sung thêm nội dung gì làm thay đ i nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo ph hợp với toàn bộ chứng cứ trong quá trình điều tra như: Biên bản b t người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 ph t ngày 18/6/2024 của Công an x TL, huyện TC, tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại vật chứng; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1317/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Lời khai của người chứng kiến.

T các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/6/2024 Quàng Văn D đ có hành vi cất gi trái phép 0,27 gam chất ma t y, loại Methamphetamine và Heroine trong người với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, b t quả tang tại khu vực bản Bai, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Bị cáo đ phạm tội Tàng tr trái phép chất ma t y theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 152/CT-VKS-HS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đ ng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua, bán, tàng tr trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đ bất chấp các quy định của pháp luật để phạm tội với l i cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma t y, gây mất trật tự trị an x hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma t y. Do đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm kh c, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu, tu i đời còn trẻ và là người dân tộc thiểu số cư tr ở v ng có điều kiện kinh tế- x hội đặc biệt khó khăn, khả năng nhận thức pháp luật phần nào còn hạn chế, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ng a chung.

Về hình phạt b sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập n định và là đối tượng sử dụng ma tuý nên không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu hồng và một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo d ng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nguồn gốc số ma t y bị thu gi : Bị cáo khai nhận khối lượng ma tuý thu gi của bị cáo có nguồn gốc do bị cáo mua của một người thanh niên dân tộc Thái tại khu vực bản H, xã TC, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 18/6/2024. Do bị cáo không biết họ tên và địa chỉ của người đ bán ma tuý cho bị cáo, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh. Do vậy buộc bị cáo Quàng Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với t ng khối lượng ma tuý đ thu gi .

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư tr ở v ng có điều kiện kinh tế- x hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

V ội danh à h nh phạ :

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn D phạm tội Tàng tr trái phép chất ma t y.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn D 15 (mười lăm tháng t . Thời hạn t tính t ngày b t tạm gi , tạm giam (ngày 18/6/2024).

Không áp dụng hình phạt b sung (Phạt tiền đối với bị cáo.

2 V ậ chứng ụ án:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hu :

01 phong bì niêm phong có viền xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn D - TTTPCMT, b t ngày 18/6/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 062991 đ lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ ch ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị b t và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Sau đó, dán băng dính màu tr ng đ lên giấy niêm phong và các mép giấy dán giáp lai của phong bì. Bên trong có: 01 mảnh nilon màu hồng 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 9 năm 2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

V án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn D.

4 V quy n kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ