- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "H-Ph"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang Th về việc buộc bà Nguyễn Thị B phải trả lại cho ông Th số tiền 1.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 192/2024/DS-PT Ngày 05/6/2024 “V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huờn
Các thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn và bà Nguyễn Thị Hạnh Vân
-Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu- Kiểm sát viên
Mở phiên tòa ngày 17/5/2024, tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2024/TLPT-DS ngày 27/02/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua tài sản”; Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk, bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 129/2024/QĐXXPT-DS ngày 23/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2024/QĐ-PT ngày 17/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quang Th- Có mặt
Địa chỉ: Thôn 02, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B- Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 06, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Công Tr- Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 06, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng:
1. Bà Đinh Thị M; địa chỉ: Thôn 2, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
2. Ông Hồ Xuân L; địa chỉ: Thôn 2, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
3. Bà Tô Thị Mỹ H; địa chỉ: Thôn 2, xã R, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/5/2023, và quá trình tham gia giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Quang Th trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị B thường xuyên có giao dịch mua, bàn Cà phê và hạt Tiêu; Ngày 24/3/2021, ông và bà B thỏa thuận miệng với nhau, bà B bán cho ông 16 tấn hạt Tiêu, với giá 74.000đ/kg; Cũng trong ngày 24/3/2024, ông chuyển tiền cho bà B 1.200.000.000đ để thanh toán tiền mua hạt Tiêu, thông qua tài khoản của anh Hồ Công Tr ( là con trai bà B ), mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, tại phòng giao dịch Ea H'Leo; Sau khi nhận khoản tiền nêu trên của ông, bà B không chuyển giao cho ông 16 tấn hạt Tiêu mà ông đã mua. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị B phải trả lại cho ông 1.200.000.000đ.
Quá trình tham gia giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà thường xuyên bán hạt Tiêu cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H ( sau đây gọi tắt là Công ty H ), do ông Trần Quang Th là chủ sở hữu và là người đại diện theo pháp luật của Công ty; Ngày 24/3/2021, ông Trần Quang Th chuyển khoản cho bà 1.200.000.000đ, là để thanh toán cho bà khoản tiền nợ mà Công ty H, mua hạt Tiêu của bà nhưng chưa thanh toán; Tính đến ngày 18/5/2021, Công ty H còn nợ bà tiền hạt Tiêu là 440.000.000đ. Vì vậy, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Th.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hồ Công Tr, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng.
Quá trình tham gia tố tụng, người làm chứng là anh Hồ Văn P ( tên thường gọi: Hồ Xuân L ) trình bày: Anh là nhân viên của Công ty H, anh có vụ nhận hàng hóa Công ty mua về; ngày 24/3/2021, anh ký nhận của bà Nguyễn Thị B 17.222,4kg hạt Tiêu; ngày 25/3/2021, anh ký nhận của bà B 29.377,1kg hạt Tiêu; Tất cả hàng hóa nêu trên, anh nhập vào kho Công ty H.
Quá trình tham gia tố tụng, người làm chứng là chị Đinh Thị M trình bày: Chị là nhân viên của Công ty H, chị có vụ nhận hàng hóa Công ty mua về; ngày 24/3/2021, chị ký nhận của bà Nguyễn Thị B 17.693,8kg hạt Tiêu; ngày 26/3/2021, chị ký nhận của bà B 14.406,1kg hạt Tiêu; Tất cả hành hóa nêu trên, chị nhập vào kho Công ty H.
Quá trình tham gia tố tụng, người làm chứng là bà Tô Thị Mỹ H trình bày: Bà là nhân viên của Công ty H, là vợ ông Trần Quang Th- Giám đốc Công ty H; ngày 24/3/2021, bà và bà Nguyễn Thị B đối chiếu công nợ với nhau, về khoản tiền mà Công ty H mua hạt Tiêu của bà B; đối với khoản tiền 3.151.000đ, mà Công ty nợ tiền mua hạt Tiêu của bà B, Công ty đã thanh toán xong cho bà B.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16/01/2023 của TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; Điều 430, Điều 440 BLDS.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang Th về việc buộc bà Nguyễn Thị B phải trả lại cho ông Th 1.200.000.000đ tiền mua hạt Tiêu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 22/01/2024, nguyên đơn là ông Trần Quang Th có đơn kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Kể từ thời điểm thụ lý vụ án, đến khi mở phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Quang Th, VKSND tỉnh Đắk Lắk xét thấy: Quá trình tham gia giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Quang Th và bị đơn là bà Nguyễn Thị B đều thừa nhận: Ngày 24/3/2021, ông Th chuyển tiền cho bà B 1.200.000.000đ, thông qua tài khoản của anh Hồ Công Tr, là con trai của bà B; ông Th khởi kiện cho rằng đây là khoản tiền, ông mua 16 tấn hạt Tiêu của bà B vào ngày 24/3/2021 nhưng sau khi nhận tiền, bà B không giao cho ông 16 tấn hạt Tiêu. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà B trả lại cho ông 1.200.000.000đ; Bà B cho rằng đây là khoản tiền công ty H thanh toán cho bà tiền mua hạt Tiêu, mà Công ty còn nợ; bà không có giao dịch mua bán hạt Tiêu với cá nhân ông Th.
Căn cứ vào các tài liêu có trong hồ sơ vụ án, thì bà B là người thường xuyên bán hạt Tiêu cho Công ty H trong một thời gian dài; Sau khi bà B giao hạt Tiêu cho công ty, thì ông Th là người thanh toán tiền mua hạt Tiêu cho bà B, với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty; ông Th không cung cấp được chứng cứ, để chứng minh đã mua 16 tấn hạt Tiêu của bà B vào ngày 24/3/2021. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th, là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn, còn trong hạn luật định, nên hợp lệ.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Xuân Thành, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, thì bà Nguyễn Thị B thường xuyên bán hạt Tiêu cho Công ty H; Căn cứ vào bảng kê chi tiết về việc bà B bán hạt Tiêu cho Công ty H, do Công ty cung cấp cho Tòa án, thì trong thời gian từ ngày 19/3/2021 đến ngày 22/3/2021, bà B và Công ty thỏa thuận chốt giá mua bán hạt Tiêu và bà B đã 10 lần bán cho Công ty H 85.000kg hạt Tiêu, với tổng số tiền 6.251.000.000đ; Công ty còn nợ bà B tiền mua hạt Tiêu là 3.151.000.000đ và bà B chưa giao cho Công ty 30.570,6kg hạt Tiêu. Trong thời gian từ ngày 24/3/2021 đến ngày 22/4/2021, bà B và Công ty thỏa thuận chốt giá, mua bán hạt Tiêu và bà B đã 13 lần bán cho Công ty H 153.570,6kg hạt Tiêu, với tổng số tiền 8.907.500.000đ. Tính đến ngày 18/5/2021, Công ty còn nợ bà B tiền mua hạt Tiêu chưa thanh toán 440.000.000đ. Như vậy, có căn cứ để xác định Công ty H đã nhiều lần mua hạt Tiêu của bà B và chưa thanh toán đủ tiền mua hạt Tiêu cho bà B.
Ngày 24/3/2021, ông Trần Quang Th chuyển 1.200.000.000đ vào tài khoản của anh Hồ Công Tr, là con của bà Nguyễn Thị B với nội dung "Trần Quang Th chuyển khoản trả tiền Tiêu cho B"; ông Th khởi kiện cho rằng đây là khoản tiền, cá nhân ông mua của bà B 16 tấn hạt Tiêu vào ngày 24/3/2021 nhưng sau đó bà B không giao 16 tấn hạt Tiêu cho ông như đã thỏa thuận; bà B thừa nhận, đã nhận 1.200.000.000đ từ ông Th chuyển tiền vào tài khoản anh Trường nhưng cho rằng đây là khoản tiền Công ty H, thanh toán tiền mua hạt Tiêu cho bà, mà Công ty còn nợ; bà chưa bao giờ bán hạt Tiêu cho cá nhân ông Th; Quá trình tham gia giải quyết vụ án, ông Th không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, đã mua của bà B 16 tấn hạt Tiêu vào ngày 24/3/2021. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th, về việc buộc bà B phải trả lại cho ông 1.200.000.000đ tiền mua hạt Tiêu, là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Th, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Quang Th là người cao tuồi, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Th.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Quang Th; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DSST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang Th về việc buộc bà Nguyễn Thị B phải trả lại cho ông Th số tiền 1.200.000.000đ là tiền mua hạt Tiêu của bà B vào ngày 24/3/2021.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Quang Th.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện E; - Các đương sự; - Lưu: HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huờn |