- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết T đối với anh Kha Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 192/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/4/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Anh
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký viên Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT chính thức: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 353/2022/TLST- HNGĐ, ngày 24/10/2022 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11/4/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1983. Nơi cư trú: tổ 5, ấp Phú CA, xã PT, huyện PT, tỉnh An Giang. (đề nghị vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Kha Minh Thông, sinh năm 1979. Nơi cư trú: tổ 5, ấp Phú CA, xã PT, huyện PT, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải không được chị Nguyễn Thị Tuyết T có lời trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: nguyên trước đây anh chị tìm hiểu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PT, huyện PT theo quy định. Quá trình chung sống với nhau được hạnh phúc cho tháng 11 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn với nhau. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống; thường xuyên cự cãi nhau, chị cho rằng anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên kiếm chuyện đánh đập chị nhiều lần, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn chung sống lại với nhau được nữa. Nay chị T cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Kha Minh T.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 người con chung tên Kha Thị Phương T, sinh ngày 02/6/2008 và Kha Phước T, sinh năm 30/9/2013 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung đến trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về quan hệ tài sản chung; nợ phải thu và phải trả: chị T khai không có, không yêu cầu xem xét giải quyết. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn anh Kha Minh T vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử nên không có lời trình bày.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Kha Minh T được tống đạt các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh Kha Minh T vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T. Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Kha Minh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân không hàn gắn được phù hợp với xác nhận của ông Kha Đức L là cha ruột của anh Kha Minh T cũng xác nhận anh T và chị T thời gian từ năm 2021 không còn chung sống với nhau nên yêu cầu của chị T về xin ly hôn là có căn cứ pháp luật. Về con chung tên 02 người con chung tên Kha Thị Phương T, sinh ngày 02/6/2008 và Kha Phước T, sinh năm 30/9/2013 hiện đang sống với chị T nên cần ổn định cuộc sống cho 02 cháu, phù hợp với nguyện vọng các cháu muốn sống với chị T, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T được tiếp tục nuôi con chung. Chị T chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
. Về hình thức, thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Tuyết T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Kha Minh T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: tổ 5, ấp Phú CA, xã PT, huyện PT, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.
1.3 Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Kha Minh T được tống đạt các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh Kha Minh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa; chị T có đề nghị vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Kha Minh T và chị Nguyễn Thị Tuyết T.
Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: anh Kha Minh T và chị Nguyễn Thị Tuyết T có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn số 122/2008, ngày 25/7/2008 do UBND xã PT, huyện PT cấp cho anh chị) đây là hôn nhân được pháp luật bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xảy ra. Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập từ năm 2008 trên cơ sở tìm hiểu nhau tiến tới hôn nhân, thời gian dài có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống; thường xuyên cự cãi nhau, chị cho rằng anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên kiếm chuyện đánh đập chị nhiều lần nên chị T bỏ về nhà cha, mẹ ruột sống ly thân cho đến nay. Từ những lý do trên tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay, cũng như từ khi Tòa án thụ lý yêu cầu ly hôn của chị T phía anh T biết nhưng không có thiện chí hàn gắn tình cảm; không còn quan tâm về hôn nhân này, cũng phù hợp với xác nhận của ông Kha Đức L là cha ruột của anh Kha Minh T cũng xác nhận anh T và chị T thời gian từ năm 2021 không còn chung sống với nhau nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
2.2 Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị T xác nhận có 02 người con chung tên Kha Thị Phương T, sinh ngày 02/6/2008 và Kha Phước T, sinh năm 30/9/2013 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung đến trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Từ khi ly thân cho đến nay 02 cháu chung sống với chị T được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định và ăn học đầy đủ như bao đứa trẻ khác; phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu là muốn chung sống với chị T. Từ đó, xét thấy hoàn cảnh và điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chưa thành niên của chị T là đảm bảo, cần giữ ổn định cuộc sống cho 02 cháu T, cháu T nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của chị T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.3 Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: chị T khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ, chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
. Về án phí DSST: chị Nguyễn Thị Tuyết T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Kha Minh T có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 3; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết T đối với anh Kha Minh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với anh Kha Minh T.
2. Về quan hệ con chung:
2.1 Giao 02 người con chung tên Kha Thị Phương T, sinh ngày 02/6/2008 và Kha Phước T, sinh năm 30/9/2013 cho chị Nguyễn Thị Tuyết T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đến thành niên và tự lập được. Anh Kha Minh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
2.2 Chị Nguyễn Thị Tuyết T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Kha Minh T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
2.3 Vì lợi ích của con chung khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1 Chị Nguyễn Thị Tuyết T phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị Nguyễn Thị Tuyết T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005648, ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.
2.2 Anh Kha Minh T không phải chịu án phí.
Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Kha Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện PT; - CCTHADS huyện PT; - TAND tỉnh An Giang; - Lưu: hồ sơ vụ án, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thành Thuận |