vanban.org

Bản án 192/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 07/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoài P.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang. Tuyên ố bị cáo Cao Hoài P phạm tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cao Hoài P - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuậ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoài P.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2022/HS-PT
Ngày: 07 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu

Ông Võ Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Phi, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 139/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Cao Hoài P do có kháng cáo của ị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Cao Hoài P, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1994, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn Nh, sinh năm 1971 và à Lê Thị Đ, sinh năm 1972; Vợ Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần, ngày 23/5/2017 ị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 5 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 03/2017/HSST ngày 23/5/2017) chấp hành án tại Trại giam Phước Hòa – Bộ Công an, đến ngày 27/8/2020 về địa phương.

Nhân thân: Ngày 28/8/2015 ị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Ngày 27/10/2015 Viện kiểm sát nhân dân huyện T ra quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can , lý do ị hại rút yêu cầu.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T- Văn Phòng luật sư H, Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang. (Có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/4/2021 anh Đặng Tấn S đến Công an xã PĐ tố giác việc nổ súng xảy ra ngày 21/4/2021 và giao nộp 01 vỏ đạn do Cao Hoàng S1 nhặt được ở khu vực nổ súng. Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ ngày 21/4/2021, Nguyễn Hùng T, Nguyễn Ngọc L, Cao Văn Hoàng L1, Nguyễn Hoàng K uống rượu tại nhà anh Nguyễn Ngọc L3 (Tú) thuộc ấp L, xã PĐ, huyện T. Trong lúc uống rượu thì giữa T và L1 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau, được mọi người can ngăn L1 bỏ ra về. Sau đó, L1 cùng anh Cao Văn H và nhiều người thân trong gia đình L1 đến nhà L3 để tìm T nói chuyện. T khai do sợ người nhà L1 đánh nên T điện thoại nhờ Nguyễn Văn H2 đến giúp T giải hòa. H2 rủ Cao Hoài P, Đỗ Hải L4, Nguyễn Hồng Th cùng đi, H2 nói với P, L4, Th đến nhà L3 để uống rượu. P chở H2 bằng xe mô tô iển số 63B8 – xxx.xx, Th chở L4 bằng xe mô tô của Th. Khi nhóm P đến trước khu vực nhà L3 thì nhìn thấy đông người đang cự cải với T nên P lấy cây súng út đang cất giấu trong túi áo khoác ên trái sử dụng bắn một phát chỉ thiên mục đích để mọi người giải tán, sau khi ắn xong P vứt vỏ đạn gần khu vực hiện trường và cất khẩu súng vào túi áo rời khỏi hiện trường. Sau đó P đem cây súng, đạn cất giữ ở khu vực khe lam gió ở phòng ngủ của mình tại ấp C, xã P, huyện T.

Về nguồn gốc khẩu súng: P khai khoảng năm 2012 được người bạn tên Th ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) cho một khẩu súng dạng út, 02 viên đạn bằng kim loại, bị cáo mang về cất giữ tại nhà. Bản thân ị cáo thường đi chơi đêm nên mang theo súng để phòng thân.

Tại Bản kết luận giám định số 736/KTHS (D9) ngày 13/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, kết luận: Khẩu súng trên có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng; viên đạn, vỏ đạn là loại đạn thể thao.

Ngày 28/10/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tiền Giang trưng cầu giám định bổ sung, truy nguyên khẩu súng ắn ra võ đạn thu giữ tại hiện trường. Ngày 09/11/2021, Phân viện khoa học hình sự kết luận vỏ đạn thu giữ tại hiện trường được bắn ra từ khẩu súng út của Cao Hoài P đã tàng trữ, sử dụng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên ố bị cáo Cao Hoài P phạm tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Cao Hoài P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo chấp hành án.

Ngoài ra ản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông áo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Ngày 09 tháng 6 năm 2022, bị cáo Cao Hoài P có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Cao Hoài P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát iểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoài P giữ nguyên ản án sơ thẩm.

- Người ào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Do bị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, gia đình ị cáo thờ cúng liệt sỹ, có công với cách mạng nên kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận đối với hành vi của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Hoài P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và ản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đầy đủ cơ sở xác định: Khoảng năm 2012, bị cáo P được người bạn tên Th ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) cho một khẩu súng dạng út, 02 viên đạn bằng kim loại, bị cáo mang về cất giữ tại nhà. Đến khoảng 18 giờ ngày 21/4/2021 tại ấp L, xã PĐ, huyện T có nhóm người xảy ra mâu thuẩn, bị cáo đã dùng cây súng út đang cất giấu trong túi áo khoác ắn một phát chỉ thiên mục đích để mọi người giải tán, sau khi ắn xong bị cáo vứt vỏ đạn gần khu vực hiện trường và cất khẩu súng vào túi áo rời khỏi hiện trường. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Hoài P về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có cơ sở đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, gây hoang mang lo sợ, bất ình trong nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân có nhân thân xấu từng bị kết án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, cho nên cần phải xử lý nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoài P xin giảm nhẹ hình phạt Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà ị cáo gây ra cùng với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù là tương xứng. Từ khi xét xử sơ thẩm đến nay bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ đáng kể nào khác. Nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.

Xét lời đề nghị của người ào chữa cho bị cáo chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Cao Hoài P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoài P.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên ố bị cáo Cao Hoài P phạm tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Cao Hoài P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày ị cáo chấp hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Cao Hoài P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ